vanban.org

Bản án 10/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 31/03/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Phạm Trọng S.

Về con chung: Giao cháu Phạm Phương L, sinh ngày 09/10/2017 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Phạm Trọng S không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Phạm Trọng S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh T - Phạm Trọng S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Phạm Trọng S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: ../2022/HNGĐ-ST
Ngày 31/3/2022
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:

Bà Đoàn Thị Kim Thương;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Gái;

Ông Lê Vĩnh Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Ánh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Hoằng- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 44/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2021, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2022/QĐ-ST ngày 22/3/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Trị; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Phạm Trọng S

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Trị

Địa chỉ hiện nay: Hiện đang xuất khẩu lao động tại Nhật Bản; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2021, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Phạm Trọng S đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã V ( nay là xã H), huyện V, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Đến tháng 11 năm 2019, anh S đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, từ đó đến nay không về, không quan tâm đến mẹ con chị, ít liên lạc nên chị T không biết địa chỉ cụ thể của anh S tại Nhật Bản. Chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn anh S.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh S có 01 con chung, cháu Phạm Phương L, sinh ngày 09/10/2017, hiện nay cháu đang ở với chị T. Chị T có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Trọng S không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị T.

Tại Biên bản xác minh ngày 16/02/2022, ông Phạm Trọng D (bố đẻ của anh Phạm Trọng S) có ý kiến:

Anh S và chị T kết hôn năm 2016, năm 2019 anh S đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, mâu thuẫn giữa anh S và chị T ông D không được rõ. Hiện nay, gia đình và ông D không biết được địa chỉ cụ thể của anh S tại Nhật Bản, nhưng anh S vẫn thường xuyên liên lạc với ông D và gia đình qua điện thoại hoặc qua mạng xã hội Facebook, Zalo. Ông D cam đoan sẽ nhận các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh S và sẽ thông báo lại nội dung của văn bản cho anh S được biết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:

- Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 63; Điều 239-260 và Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được thông báo nội dung các văn bản tố tụng Tòa án nhưng không cung cấp địa chỉ cụ thể nơi mình đang làm ăn, sinh sống tại Nhật Bản nên đây là trường hợp cố tình dấu địa chỉ và không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Áp dụng Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

+ Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Phạm Trọng S.

+ Về con chung: Giao cháu Phạm Phương L, sinh ngày 09/10/2017 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

+ Tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với anh Phạm Trọng S khi anh S đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Trước và sau khi thụ lý vụ án, chị T và gia đình anh S không cung cấp được địa chỉ của anh S tại Nhật Bản, nhưng phía gia đình của anh S vẫn thường xuyên liên lạc với anh S qua điện thoại hoặc qua mạng xã hội facebook, Zalo, gia đình anh S nhận các Văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết thông báo cho anh S nhưng anh S không cung cấp địa chỉ, trực tiếp tham gia tố tụng hoặc có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của chị T nên được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc “Giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ” để giải quyết vụ án theo thủ tục chung được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ.

. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T, Hội đồng xét xử thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Phạm Trọng S trên cơ sở tự nguyện và được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được thời gian thì anh S xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay chị T kiên quyết ly hôn, anh S không liên lạc với chị T để bàn bạc, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Thấy rằng, hôn nhân là sự tự nguyện, mâu thuẫn giữa chị T và anh S không thể khắc phục được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn anh S.

. Về con chung: Quá trình chung sống anh S và chị T có 01 con chung là cháu Phạm Phương L, sinh ngày 09/10/2017, hiện đang ở với chị T. Xét nguyện vọng nuôi con chị T thấy rằng, để đảm bảo ổn định cuộc sống và phù hợp nguyện vọng của cháu L nên căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu L cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Phạm Trọng S.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Phương L, sinh ngày 09/10/2017 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Phạm Trọng S không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phạm Trọng S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000034 ngày 17 tháng 12 năm 2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Chị Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

ơ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lê Vĩnh Huệ

Phan Thị Gái

Đoàn Thị Kim Thương

Cỡ chữ