vanban.org

Bản án 10/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị A

Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị A và anh Nguyễn Văn T. Về án phí: Chị Lê Thị A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, chị A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ko công nhận chị O và anh T là vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị A
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V ĐỒN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 10 /2022/HNGĐ-ST
Ngày 05/7/2022
“V/v Không công nhận quan hệ vợ
chồng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V ĐỒN - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Ninh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Minh Tâm

2. Ông Phạm Văn Bé

Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V Đồn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V Đồn tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên

Trong ngày 05/7/2022, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân huyện V Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2022/TLST- HNGĐ ngày 19/5/2022 về việc: "Không công nhận quan hệ vợ chồng" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 13/6/2022; Thông báo hoãn phiên tòa số 01/2022/TBHPT ngày 22/6/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị A, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn KN, xã Đ, huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn KN, xã Đ, huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 17/5/2022; Biên bản lấy lời khai ngày 09/6/2022 và tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Lê Thị A trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống như vợ chồng với nhau từ năm 1991, trước khi về chung sống anh chị không tìm hiểu mà do hai bên gia đình mai mối. Từ năm 1991 đến nay chị A và anh T chưa đến UBND cấp xã nào để thực hiện đăng ký kết hôn. Sau khi về chung sống cùng nhau anh chị sinh sống tại thôn KN, xã Đ, huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh cho đến nay. Trong thời gian chung sống như vợ chồng, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau, anh T thường xuyên có hành vi bạo lực đánh chị A, làm cho chị A không thể chung sống cùng anh T được nữa. Đến nay, tình cảm chị A đối với anh T không còn, chị yêu cầu Tòa án tuyên bố quan hệ giữa chị và anh Nguyễn Văn T không phải là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Chị A và anh T có hai con chung là: Nguyễn Thành L, sinh ngày 24/7/1992 và Nguyễn Thị Bích V – sinh ngày 24/6/1994. Các con chung hiện đã thành niên, đã lập gia đình riêng, không có nhược điểm về thể chất, tâm thần, vì vậy chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị A yêu cầu được tự thỏa thuận chia tài sản chung với anh T, chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/6/2022 và tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T xác nhận về thời gian, hoàn cảnh chung sống như vợ chồng như phần trình bày của chị Lê Thị A là đúng. Thời gian chung sống như vợ chồng, anh chị thường xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau, đôi khi nóng tính không kiềm chế được, anh có tát chị A vài cái. Do đã có tuổi, có con có cháu, anh T muốn chị A về cùng chung sống. Anh T xác nhận, anh và chị A đúng là chưa thực hiện đăng ký kết hôn tại bất kỳ UBND xã phường nào, anh T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Anh T và chị A có hai con chung là: Nguyễn Thành L, sinh ngày 24/7/1992 và Nguyễn Thị Bích V – sinh ngày 24/6/1994. Các con chung hiện đã thành niên, đã lập gia đình riêng, không có nhược điểm về thể chất, tâm thần, vì vậy anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung:

Anh T yêu cầu được tự thỏa thuận chia tài sản chung với chị A, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Không có.

Tại đơn đề nghị xác nhận ngày 17/5/2022, UBND xã Đ, huyện V Đồn xác nhận: Chị Lê Thị A, sinh năm 1974 và anh Nguyễn Văn T sinh năm 1962. Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn từ năm 1990 cho đến nay, không có tên lưu trữ của Lê Thị A và Nguyễn Văn T trong sổ đăng ký kết hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V Đồn tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ ý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc không công nhận quan hệ giữa chị Lê Thị A và anh Nguyễn Văn T là quan hệ vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lê Thị A và anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại thôn KN, xã Đ, huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V Đồn quy định tại khoản 8 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị A có đơn xin xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Chị Lê Thị A và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991 cho đến nay, nhưng không đến ủy ban nhân dân phường (xã) để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Chị A và anh T trong quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách của anh chị không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, không có sự tin tưởng và tôn trọng nhau. Anh T thường có những lời lẽ xúc phạm và hành vi bạo hành, sử dụng vũ lực đánh chị A, dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc, nên cả chị A và anh T đều chán nản không muốn đi đăng ký kết hôn. Đến nay, chị A không còn tình cảm gì dành cho anh T, chị yêu cầu Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh T, anh T cũng yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Việc chị A và anh T chung sống với nhau, nhưng không đăng ký kết hôn đã vi phạm quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A và anh T.

Về con chung: Trong quá trình sống chung, chị A và anh T có có hai con chung là: Nguyễn Thành L, sinh ngày 24/7/1992 và Nguyễn Thị Bích V – sinh ngày 24/6/1994. Các con chung hiện đã thành niên, không có nhược điểm về thể chất, tâm thần, chị A, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. vì vậy, Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Chị A, anh T đều yêu cầu được tự thỏa thuận chia tài sản chung, chị A, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. vì vậy, Hội đồng xét xử không xét.

Về công nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Lê Thị A phải nộp án phí đối với yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị A

- Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị A và anh Nguyễn Văn T.

- Về án phí: Chị Lê Thị A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, chị A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011112 ngày 19/5/2022 của Chi cục T hành án dân sự huyện V Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Chị A đã nộp đủ.

- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị A, anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện V Đồn

- CCTHADS huyện V Đồn;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Các đương sự;

- UBND xã Đ, h. V Đồn;

- Lưu hồ sơ, lưu văn phòng

Lê Hồng Ninh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Minh Tâm – Phạm Văn Bé

Lê Hồng Ninh

Cỡ chữ