- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lục Thị Th, cho chị Lục Thị Th được ly hôn với anh Đinh Văn Kh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2022/HNGD-ST Ngày 20 tháng 4 năm 2022 Về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Châm Thị Vân Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Tất Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Hoài Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Lệ Hoài- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa: Ông Triệu Đức Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021 về việc tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lục Thị Th, sinh năm 1978
Địa chỉ: xóm M, xã M, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
Bị đơn:
Anh Đinh Văn Kh, sinh năm 1970
Địa chỉ: xóm M, xã M, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
(Chị Th có mặt, anh Kh vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lục Thị Th trình bày:
Chị và anh Đinh Văn Kh kết hôn ngày 06/9/1999 có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Anh chị kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng ra ở riêng. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, anh Kh chăm chỉ làm ăn. Mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu phát sinh kể từ sau khi chị đi xuất khẩu lao động , đến năm 2015 thì anh Kh chơi bời, tụ tập bạn bè, không chịu làm ăn. Vợ chồng ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kh.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung: cháu Đinh Thị Nguyệt, sinh ngày 10/10/1999 và cháu Đinh Thị Ánh, sinh ngày 03/11/2006, hiện tại cháu Nguyệt đã trưởng thành.
Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Ánh. Chị không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Đinh Văn Kh tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải trình bày: anh thừa nhận về thời gian kết hôn, nhưng anh xác định cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Đến tháng 5/2021 thì chị Th tự ý bỏ đi, anh không đánh đập, không đuổi chị Th đi.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, vẫn mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ nên anh không nhất trí ly hôn. Nhưng nếu chị Th cương quyết ly hôn thì anh cũng nhất trí vì không thể giữ được người đi.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Thị Nguyệt, sinh ngày 10/10/1999 và cháu Đinh Thị Ánh, sinh ngày 03/11/2006, hiện tại cháu Nguyệt đã trưởng thành.
Anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Ánh, tuy nhiên anh tôn trọng nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt văn bản thông báo, quyết định của Tòa án nhưng anh Kh cố tình không hợp tác với Tòa án, vì vậy vụ án phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa hôm nay.
Tại phiên tòa chị Th vẫn giữ nguyên ý kiến của mình như đã nêu trên.
Trong bài phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định pháp luật. Đối với nguyên đơn tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều 70,71 của BLTTDS. Về phía bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
- Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lục Thị Th và cho chị Th được ly hôn anh Đinh Văn Kh.
- Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Đinh Thị Ánh, sinh ngày 03/11/2006 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Không yêu cầu, nên không xem xét, giải quyết.
- Chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn, bị đơn anh Đinh Văn Kh có địa chỉ tại: Xóm M, xã M, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Kh vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đinh Văn Kh.
Về nội dung: Chị Lục Thị Th và anh Đinh Văn Kh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 06/9/1999 tại UBND xã M, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Lục Thị Th và anh Đinh Văn Kh là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Lý do chị Th xin ly hôn anh Kh theo chị Th là do anh Kh chơi bời, nghiện ngập, tụ tập bạn bè, không lo làm ăn xây dựng kinh tế gia đình. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Phía anh Kh cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì và mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Kh mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nhưng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm mà hiện nay vẫn sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Kh để anh Kh đến Tòa án tham gia phiên hòa giải nhưng anh Kh vắng mặt không có lý do. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Th và anh Kh đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lục Thị Th, cho chị Lục Thị Th được ly hôn anh Đinh Văn Kh là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung: Đinh Thị Nguyệt, sinh ngày 10/10/1999 và Đinh Thị Ánh, sinh ngày 03/11/2006. Hiện nay cháu Nguyệt đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Chị Th có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Ánh, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: cháu Ánh là con gái, đồng thời tại bản tự khai cháu Ánh trình bày nguyện vọng được ở với mẹ vì mẹ quan tâm cháu hơn. Vì vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cũng như các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của cháu Ánh, nên giao cho chị Lục Thị Th được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Đinh Thị Ánh cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp. Anh Kh được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Th không yêu cầu trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lục Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1.Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lục Thị Th, cho chị Lục Thị Th được ly hôn với anh Đinh Văn Kh.
2.Về con chung: Giao con chung Đinh Thị Ánh, sinh ngày 03/11/2006, cho chị Lục Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lục Thị Th không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, nên không xem xét giải quyết.
Anh Đinh Văn Kh được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.
3.Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận, không đặt ra xem xét, giải quyết.
4.Về án phí: Chị Lục Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005244 ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Th báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Kh vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án này được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Đồng Hỷ; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - THADS huyện Đồng Hỷ; - UBND xã M, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Châm Thị Vân Khánh THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châm Thị Vân Khánh |