vanban.org

Bản án 10/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị Thu A.

Về tình cảm: Chị Lâm Thị Thu A được ly hôn với anh Nguyễn Tường B. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị Thu A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10/01/2022
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoa Kiều

2. Bà Nguyễn Thị Thùy Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong, thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 255/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2021 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2021/QĐST - DS ngày 23/12/2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Lâm Thị Thu A – sinh năm: 1986;

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

*Bị đơn: Nguyễn Tường B - sinh năm: 1980;

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

Chị A có đơn xin vắng mặt;

Anh B vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lâm Thị Thu A trình bày:

- Về tình cảm: Tôi và anh B sống chung và cưới nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N1, huyện Y, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thì thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng tháng 02/2020 thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn là bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vả, hôn nhân mâu thuẩn ngày càng trầm trọng không thể kéo dài. Hiện nay chúng tôi đã ly thân. Nay tôi xét thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn nữa nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh B.

- Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Tường C sinh ngày 10/10/2013. Hiện nay cháu C đang ở chung với tôi, tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu. Sau khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- 2 -

- Về nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Tường B vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị A.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.

+ Về nội dung: Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị A và anh B là có thật, hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị A là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung: cháu C đang sống chung với chị A, vì thế, việc chị A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu C là có cơ sở, ngoài ra, cháu C cũng có nguyện vọng được sống chung với chị A nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị Lâm Thị Thu A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tường B, giải quyết vấn đề con chung giữa anh chị, do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 51 và Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Chị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị A. Riêng đối với anh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị A, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị A trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vả, hôn nhân mâu thuẩn ngày càng trầm trọng không thể kéo dài do đó chị A yêu cầu ly hôn với anh B. Tòa án đã triệu tập anh B nhiều lần nhằm tạo điều kiện cho anh chị hàn gắng mối quan hệ vợ chồng nhưng anh B vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị A, từ đó cho thấy anh B không muốn hàn gắn hay níu kéo mối quan hệ vợ chồng với chị A, do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị là trầm trọng không thể hàn gắng được, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của chị A, cho chị A được ly hôn với anh B.

Về con chung: Có 01 con chung, tên Nguyễn Tường C - sinh ngày 10/10/2013. Xét thấy, cháu C đang sống ổn định với chị A, chị A cũng có kinh tế ổn định, vì thế, việc chị A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu C là có cơ sở, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu C nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị A khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Chị Lâm Thị Thu A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- 3 -

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị Thu A.

1. Về tình cảm: Chị Lâm Thị Thu A được ly hôn với anh Nguyễn Tường B.

2. Về con chung:

+ Giao cháu Nguyễn Tường C - sinh ngày 10/10/2013 cho chị Lâm Thị Thu A tiếp tục nuôi dưỡng.

+ Anh Nguyễn Tường B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Anh Nguyễn Tường B được quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau khi ly hôn, không ai được quyền ngăn cản.

3. Án phí: Chị Lâm Thị Thu A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004963 ngày 09/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, như vậy chị A đã thi hành xong.

4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Còn đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

- 4 -

Cỡ chữ