vanban.org

Bản án 10/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Bé H được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

Về nuôi con chung: Bà Đặng Thị Bé H được quyền trực tiếp nuôi các con chung tên Nguyễn Ngọc Kim B, sinh ngày 26-7-2009; Nguyễn Minh A, sinh ngày 08-5-2011 và Nguyễn Minh L, sinh ngày 12-10-2016, hiện các con chung đang sống với bà H. Ông Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Bé H ly hôn Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Bé H được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-4-2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Hà Giang.

Bà Nguyễn Thị Nhiều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 10/2022/TLST-HNGĐ

ngày 18 tháng 01 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Bé H - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: ấp M, xã N,

huyện D, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C - Sinh năm 1983 - Hộ khẩu thường trú: ấp 3,

xã N, huyện D, tỉnh Long An. Hiện đang chấp hành án tại: tại Đội 6, khu 2, phân

trại 2 K3 Thạnh Hòa - Địa chỉ: ấp Hải Hưng, xã Tân Lập, huyện Tân Thạnh, tỉnh

Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15-11-2021, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Đặng

Thị Bé H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn C xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn

ngày 09-01-2013 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh

Long An. Sống chung đến tháng 8/2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông C không lo làm ăn, cờ bạc, sử dụng ma túy. Tháng 4-2020, ông C bị xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thạnh Hòa. Từ khi ông C đi chấp hành án, bà không đến thăm nuôi.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

Về nuôi con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc Kim B, sinh ngày

26-7-2009; Nguyễn Minh A, sinh ngày 08-5-2011 và Nguyễn Minh L, sinh ngày 12-10-2016. Hiện các con chung đang sống với bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 11-3-2022 bị đơn ông Nguyễn Văn C trình

bày:

Ông thống một phần trình bày của bà H về ngày tháng và điều kiện kết hôn,

con chung, việc không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Về nguyên nhân mâu thuẫn ông không thống nhất, giữa ông và bà H xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên cải vã.

Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H.

Về nuôi con chung: Ông thống nhất ông và bà H có 03 con chung tên

Nguyễn Ngọc Kim B, sinh ngày 26-7-2009; Nguyễn Minh A, sinh ngày 08-5-2011 và Nguyễn Minh L, sinh ngày 12-10-2016. Hiện các con chung đang sống với bà H. Khi ly hôn, ông đồng ý để bà H trực tiếp nuôi các con chung, ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

L diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật: trong quá trình thụ lý, chuẩn bị đưa vụ án ra

xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được đảm bảo.

- Về quan điểm xử lý vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu

cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn với ông C, chấp nhận bà H trực tiếp nuôi các con chung, ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung không có.

Nguyên đơn bà H, bị đơn ông C có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến

hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Đặng Thị Bé H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn văn C, Tòa án

nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy

định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ

luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Nguyên đơn bà Đặng Thị Bé H, bị đơn ông Nguyễn Văn C vắng mặt và

có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có trong hồ

sơ vụ án xét đơn khởi kiện của bà H theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự

năm 2015.

Bà Đặng Thị Bé H và ông Nguyễn Văn C chung sống có đăng ký kết hôn

ngày 09-01-2013 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh

Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông C là hôn nhân hợp pháp theo quy

định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét việc thuận tình ly hôn giữa bà H và ông C, Hội đồng xét xử nhận

định: Bà H và ông C đều không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho

trình bày của ông bà là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, xét trong quá trình chung

sống ông C không lo làm ăn mà có hành vi vi phạm pháp luật nên bị xử phạt 7 năm

tù, hiện đang chấp hành án. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông C đã trầm trọng,

cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà H

và ông C thuận tình ly hôn là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại Điều 55 Luật

Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về nuôi con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của bà H và ông C: Bà H

được trực tiếp nuôi các con chung Nguyễn Ngọc Kim B, sinh ngày 26-7-2009;

Nguyễn Minh A, sinh ngày 08-5-2011 và Nguyễn Minh L, sinh ngày 12-10-2016,

hiện các con chung đang sống với bà H.

Xét việc bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung là tự

nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Về chia tài sản chung và nợ chung: bà H và ông C trình bày không có,

không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội, xét thấy:

Bà H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền

án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm đã nộp. Bà H đã nộp đủ án phí.

Ông C không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 55, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Bé H được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

2. Về nuôi con chung: Bà Đặng Thị Bé H được quyền trực tiếp nuôi các con

chung tên Nguyễn Ngọc Kim B, sinh ngày 26-7-2009; Nguyễn Minh A, sinh ngày 08-5-2011 và Nguyễn Minh L, sinh ngày 12-10-2016, hiện các con chung đang sống với bà H. Ông Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông C được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích

con chung, bà H và ông C có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đặng Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng tiền

án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0005111 ngày 18-01-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ

tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ