vanban.org

Bản án 10/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A

Buộc ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền nợ gốc 197.518.912đ (Một trăm chín mươi bảy triệu năm trăm mười tám nghìn chín trăm mười hai đồng) và số tiền lãi suất tính đến ngày 10/6/2022 là 94.870.890 đ (Chín mươi bốn triệu tám trăm bảy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ GIA MẬP
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/DSST
Ngày 10/06/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Tấn Lãm

2. Ông Ngô Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa: Ông Mai Phi Hùng – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 62/2021/TLST-DS ngày ngày 21 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A (viết tắt Ngân hàng)

Địa chỉ: 201-203 CM, phường 4, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc Kh – Chức vụ: nhân viên xử lý nợ Công ty TNHH MTV quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP A

Địa chỉ: SR18-SR19 QN, số 07 NTT, phường LTK, thành phố QN, tỉnh

BĐ

Theo giấy ủy quyền số 150/2020/UQ-AMC ngày 02/06/2021

Có đơn xin giải quyết vắng mặt

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1968 (Vắng mặt) bà bà Điểu Thị Ch, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 03, xã ĐO, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 6 năm 2021 nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 30/3/2020 Ngân hàng thương mại cổ phần A ký kết hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn R, bà Điểu Thị Ch số: 0487/2020/703-CV ký ngày 30/3/2020, cụ thể như sau:

+ Số tiền vay: 200.000.000 đồng

+ Thời hạn vay: 12 tháng

+ Lãi suất: 10.8%/năm; thay đổi 03 tháng/lần

+ Mục đích vay: Bổ sung chăm sóc vườn

Ngày 31/3/2020, ông R và bà Ch đã nhận tiền và đã ký giấy xác nhận nợ số 01/GNN-0487/2020/703-CV.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên ông R, bà Ch đã ký hợp đồng thế chấp số 0356/2020/703-BĐ ngày 30/3/2020 với Ngân hàng là quyền sử dụng đất diện tích 2802.2m2, tọa lạc tại thôn 3, xã ĐO, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03123/CN ngày 07/8/2009 do Ủy ban nhân dân huyện Phước Long (cũ) nay là huyện Bù Gia Mập cấp cho ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch; thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17. Được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Bù Gia Mập vào ngày 30/3/2020.

Ngân hàng đã giải ngân số tiền trên cho ông R và bà Ch, nhưng khi đến thời hạn trả nợ thì ông R và bà Ch đã không trả nợ cho ngân hàng theo đúng cam kết trong hợp đồng. Do ông R và bà Ch vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập giải quyết, buộc ông R và bà Ch có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ngân hàng tổng số tiền gốc 197.518.912 đồng và số tiền lãi suất tính đến ngày 10/6/2022 là 94.870.890 đồng (lãi trong hạn 24.567.123 đồng; quá hạn là 70.303.767 đồng)

Nếu ông R và bà Ch không trả được nợ cho ngân hàng yêu cầu Tòa án xử lý tài sản đảm bảo là: diện tích đất 2802.2m2, tọa lạc tại thôn 3, xã ĐO, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03123/CN ngày 07/8/2009 do Ủy ban nhân dân huyện Phước Long (cũ) nay là huyện Bù Gia Mập cấp cho ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch; thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0356/2020/703-BĐ ngày 30/3/2020.

2. Bị đơn ông Nguyễn Văn R tại biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2021 trình bày:

Về nội dung vay vốn, thế chấp tài sản ông R đồng ý như phần trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần A. Ông R xác nhận là hiện nay vợ chồng ông còn nợ Ngân hàng TMCP A số tiền vay gốc 197.518.912 đồng và lãi suất. Để đảm bảo khoản vay, ông R và bà Ch đã thể chấp tài sản là diện tích đất 2802.2m2, tọa lạc tại thôn 3, xã ĐO, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03123/CN ngày 07/8/2009 do Ủy ban nhân dân huyện Phước Long (cũ) nay là huyện Bù Gia Mập cấp cho ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch; thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0356/2020/703-BĐ ngày 30/3/2020.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần A khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch về việc trả số tiền gốc 197.518.912 đồng và số tiền lãi suất tính đến ngày 10/6/2022 là 94.870.890 đồng thì ông R đồng ý, nhưng hiện nay ông Rở khó khăn không có khả năng trả nợ nên xin trả tiền lãi hàng tháng, còn tiền gốc thì xin khất đến ngày 06/5/2023 sẽ trả hết.

Ngoài ra ông R không trình bày gì thêm.

Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ theo đúng theo quy định tại các điều 26, 35, 39, 68, 93, 94, 95, 96, 97, 203, 205, 208, 209, 220 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch có nghĩa vụ liên đới trả cho ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền nợ gốc 197.518.912 đồng và lãi suất trong hạn, quá hạn theo luật định.

Về tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch không trả được nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét thấy, đây là vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng do nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần A đứng đơn khởi kiện; theo đơn khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại Thôn 3, xã ĐO, huyện Bù Gia Mập. nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thủ tục xét xử vắng mặt: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc Kh có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch đã được Tòa án triệu vắng mặt hợp lệ. Bị đơn ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo Quyết định hoãn phiên tòa để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Quốc Kh, ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch

[ 3]. Về yêu cầu của nguyên đơn:

* Về số tiền nợ gốc:

Căn cứ vào HĐTD 0487/2020/703-CV ký ngày 30/3/2020 thể ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch có vay của ngân hàng thương mại cổ phần A chi nhánh Phước Bình số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; lãi suất: Trong hạn 10.8%/năm; thay đổi 03 tháng/lần; quá hạn 150%/năm; Mục đích vay: Bổ sung chăm sóc vườn. Xét thấy, việc ký hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần A và ông R, bà Ch là tự nguyện, có điều khoản rõ ràng, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp quy định tại tại Điều 117, Điều 119 của Bộ luật dân sự 2015, Điều 90 của Luật các tổ chức tín dụng và không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp luật. Các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng, nếu một trong các bên vi phạm thì phải chịu chế tài.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng thương mại cổ phần A chi nhánh Phước Bình đã giải ngân số tiền 200.000.000 đồng cho ông R, bà Ch, tuy nhiên khi đến hạn trả nợ thì ông R và bà Ch đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi suất cho Ngân hàng. Điều này được chứng minh qua Hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, bảng kê tính lãi và qua sự thừa nhận của ông R trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần A chi nhánh Phước Bình buộc ông R và bà Ch trả số tiền nợ gốc 197.518.912 đồng là có đủ căn cứ nên được chấp nhận.

3.2. Về tiền lãi suất:

* Về tiền lãi suất: Ngân hàng yêu cầu ông R và bà Ch trả số tiền lãi suất tính từ ngày 31/03//2020 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất như sau:

Lãi trong hạn tính từ ngày 12/3/2019 đến ngày 12/3/2020 là 24.567.123 đồng.

Lãi quá hạn tính từ ngày 13/3/2020 đến ngày 05/5/2022 là: 70.303.767 đồng.

Xét thấy, mức lãi suất mà ngân hàng yêu cầu mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 và Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nên yêu cầu về lãi suất của Ngân hàng được chấp nhận, buộc ông R và bà Ch phải có nghĩa vụ liên đới trả tiền lãi suất cho Ngân hàng với tổng số tiền tính đến ngày 05/5/2022 là 94.870.890 đồng

* Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo: Căn cứ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đảm bảo vay vốn số 0487/2020/703-CV ký ngày 30/3/2020, thể hiện: Để đảm bảo khoản vay vốn 200.000.000 đồng thì ông R và bà Ch có thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần A chi nhánh Phước Bình quyền sử dụng đất là: diện tích đất 2802.2m2, tọa lạc tại thôn 3, xã ĐO, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03123/CN ngày 07/8/2009 do Ủy ban nhân dân huyện Phước Long (cũ) nay là huyện Bù Gia Mập cấp cho ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch; thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17. Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện tài sản thế chấp vẫn giữ nguyên hiện trạng từ khi ký hợp đồng thế chấp tài sản đến nay không có thay đổi gì. Xét thấy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0487/2020/703-CV ký ngày 30/3/2020, đảm bảo vay vốn số là tự nguyện, đúng chủ thể, được công chứng và tài sản thế chấp được đăng ký bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Bù Gia Mập. Hợp đồng có mục đích, nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 293, 295, 298, 318, 319, 500, 502 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 167, Điều 188 của luật đất đai năm 2013 và không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm đăng ký thế chấp, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, trong trường hợp ông R và bà Ch không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần A có quyền yêu cầu Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất diện tích đất diện tích đất 0487/2020/703-CV ký ngày 30/3/2020 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0487/2020/703-CV ký ngày 30/3/2020 để thu hồi nợ cho ngân hàng.

. Về số tiền chi phí xem xét thẩm định là 3.000.000 đồng, ông R và bà Ch phải chịu. Do Ngân hàng thương mại cổ phần A đã tạm ứng số tiền chi phí trên nên cần buộc ông R và bà Ch có nghĩa vụ trả lại số tiền này cho Ngân hàng.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch phải nộp theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 158; khoản 2 Điều 227; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 117, 119; 293, 295, 298, 318, 319, 468, 500, 502 của Bộ luật dân sự 2015

- Khoản 3 Điều 167, Điều 188 của luật đất đai năm 2013

- Các Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A

Buộc ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền nợ gốc 197.518.912đ (Một trăm chín mươi bảy triệu năm trăm mười tám nghìn chín trăm mười hai đồng) và số tiền lãi suất tính đến ngày 10/6/2022 là 94.870.890 đ (Chín mươi bốn triệu tám trăm bảy mươi nghìn tám trăm chín mươi đồng)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch còn phải tiếp tục chịu tiền lãi suất quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong số tiền nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay cũng sẽ được điểu chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần A được quyền yêu cầu Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ gồm: diện tích đất 2802.2m2, tọa lạc tại thôn 3, xã ĐO, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03123/CN ngày 07/8/2009 do Ủy ban nhân dân huyện Phước Long (cũ) nay là huyện Bù Gia Mập cấp cho ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch; thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0487/2020/703-CV ký ngày 30/3/2020.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: là 3.000.000đ (Ba triệu đồng), ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch phải chịu và có nghĩa vụ hoàn trả số tiền này cho Ngân hàng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch phải nộp số tiền 28,763,000 đồng (Hai mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng)

Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền tạm ứng án phí 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007650 ngày 18 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Bị đơn ông Nguyễn Văn R và bà Điểu Thị Ch vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ