vanban.org

Bản án 10/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 20/01/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bà Nguyễn Thị Út C phải chịu 1.

Bà Lê Thị Hồng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Lê Thị Hồng N số tiền tạm ứng án phí 1.950.000 đồng mà bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001844 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H cấp ngày 18 tháng 11 năm 2021. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng N; Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Út C, sinh năm 1987"
  • Tòa quyết gì? Bà Nguyễn Thị Út C phải chịu 1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 10/2022/DS-ST
Ngày: 20/01/2022
V/v tranh chấp hợp đồng dân
sự về hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.

Các hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Thanh Trang;

- Ông Huỳnh Mộc Khải.

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 308/2021/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2021/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2021, giữa:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ 01, ấp Mỹ Thạnh, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Út C, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ 08, khóm V, phường M, thành phố H, tỉnh An Giang.

(Bà N, bà C, có mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N trình bày: Bà N có tham gia các dây hụi do bà Nguyễn Thị Út C làm chủ, cụ thể như sau:

- Dây hụi thứ nhất: hụi 500.000đồng, mở ngày 18/12/2020 âm lịch, hụi 10 ngày khui một lần, hụi chưa kết thúc, gồm 50 hụi viên, bà tham gia 01 phần. Bà đã góp hụi sống cho bà C được 12 lần thì bà C bị bể hụi, bỏ đi, ngưng mở hụi. Tổng số tiền bà đã góp được cho dây hụi này 4.000.000đồng. Bà C còn nợ bà là 4.000.000đồng.

- Dây hụi thứ hai: hụi 3.000.000đồng/tháng, mở ngày 28/8/2020 âm lịch, một tháng khui hụi một lần, kết thúc ngày nào bà không nhớ, gồm 24 hụi viên, bà tham gia 02 phần. Bà góp hụi sống được 07 lần thì bà C ngưng mở hụi với số tiền bà đã góp là 26.000.000đồng. Bà C còn nợ bà là 26.000.000đồng. Đến ngày 28/4/2021, bà C ngưng mở hụi đối với các dây hụi này. Tổng số tiền hụi mà bà C nợ lại của bà đối với các dây hụi trên là 30.000.000đồng. Theo đơn khởi kiện, bà yêu cầu bà C trả nợ hụi 78.000.000đồng, ngày 24/12/2021, bà có đơn yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 48.000.000đồng. Vì vậy, bà N khởi kiện yêu cầu bà C có trách nhiệm thanh toán một lần số tiền nợ hụi 30.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: không có. Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Út C cho rằng: Bà N có tham gia hụi do bà làm chủ hụi theo các dây hụi như bà N trình bày, thống nhất có nhận và còn nợ hụi của bà N 30.000.000đồng. Bà C đồng ý trả cho bà N số nợ 30.000.000đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn, xin trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ. Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm. Bà N tự nguyện rút lại yêu cầu đối với số tiền 48.000.000đồng; chỉ yêu cầu bà C có trách nhiệm trả nợ hụi 30.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi.

- Bị đơn thừa nhận nợ hụi của bà N 30.000.000đồng, xin trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ.

- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Từ ngày 28/8/2020 âm lịch đến ngày 28/8/2021 âm lịch, bà N tham gia 02 dây hụi do bà C làm chủ. Bà C tự ý ngưng hụi và còn nợ lại bà N 30.000.000đồng. Hợp đồng hụi giữa bà N với bà C được xác lập trên cơ sở tự nguyện và bà C thừa nhận còn nợ tiền hụi của bà N. Cho nên, bà N khởi kiện yêu cầu bà C trả số nợ hụi là phù hợp với quy định tại các Điều 351, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo đơn khởi kiện, bà N yêu cầu bà C trả số tiền nợ hụi 78.000.000đồng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bà N rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 48.000.000đồng, chỉ yêu cầu bà C trả số nợ hụi 30.000.000đồng, không yêu cầu trả lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đã bị rút.

Bà C thừa nhận có nợ bà N 30.000.000đồng và yêu cầu trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi dứt nợ nhưng không được bà N đồng ý nên không có cơ sở xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/20219 của Ch Phủ về họ, hụi, biêu, phường; các Điều 351, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N; buộc bà C có trách nhiệm trả cho bà N số tiền 30.000.000đồng; đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện bị rút đối với số tiền 48.000.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị Hồng N khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Út C trả nợ hụi. Bà C đang cư trú trên địa bàn thành phố H nên yêu cầu khởi kiện của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:

Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N cho rằng, bà N có tham gia 02 dây hụi do bà C làm chủ gồm: dây hụi 500.000đồng, mở ngày 18/12/2020 âm lịch, bà N tham gia 01 phần và dây hụi 3.000.000đồng/tháng, mở ngày 28/8/2020 âm lịch, bà N tham gia 02 phần. Đến thời điểm ngưng 02 dây hụi, bà C nợ bà N tổng số tiền hụi 30.000.000đồng.

Bà C thừa nhận có làm chủ 02 dây hụi như bà N trình bày, bà N có tham gia 02 dây hụi này. Bà C thừa nhận còn nợ bà N số tiền hụi như bà N trình bày. Vì vậy, có cơ sở xác định bà N có tham gia 02 dây hụi đang tranh chấp do bà C làm chủ và bà C còn nợ lại bà N số tiền vốn 30.000.000đồng.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo đơn khởi kiện, bà N yêu cầu bà C trả số tiền nợ hụi 78.000.000đồng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bà N rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 48.000.000đồng, chỉ yêu cầu bà C trả số nợ hụi 30.000.000đồng, không yêu cầu trả lãi. Cho nên, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện mà bà N đã rút theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc bà C có trách nhiệm trả cho bà N nợ hụi với số tiền 30.000.000đồng theo quy định tại các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do bà N không yêu cầu trả lãi chậm thanh toán, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. [4] Về phương thức thanh toán: Bà C yêu cầu được trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi dứt nợ nhưng không được bà N chấp nhận. Cho nên, phương thức thanh toán sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho bà N là 1.500.000đồng. Bà N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho bà N số tiền tạm ứng án phí 1.950.000đồng mà bà N đã nộp. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Các Điều 147, 244 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng N về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Út C trả số nợ hụi 48.000.000đồng. 2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng N. Buộc bà Nguyễn Thị Út C có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Hồng N số nợ hụi 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Út C phải chịu 1.500.000 (một triệu, năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Lê Thị Hồng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Lê Thị Hồng N số tiền tạm ứng án phí 1.950.000 đồng mà bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001844 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H cấp ngày 18 tháng 11 năm 2021.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lê Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Út C có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ