- Tranh chấp gì? án dân sự — "Lê Văn Hương và Nguyễn Lực"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông LVH. Buộc anh NL (NVL) phải trả cho ông LVH số tiền mua Vịt giống còn nợ là 75.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 10/2022/DS-ST Ngày 15/8/2022 “V/v tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Vũ Ngọc Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cổ Thế Chung;
Ông Nguyễn Hữu Luật.
Thư ký phiên toà: Ông Võ Đức Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gio Linh.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: Bà Đặng Thuý Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 19/2022/TLST- DS ngày 05 tháng 5 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-DS ngày 19/7/2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 11/2022/QĐ-ST ngày 09/8/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông LVH, sinh năm 1959;
Địa chỉ: thôn Linh An, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Bị đơn: Anh NL (NVL), sinh năm 1974;
Địa chỉ: thôn Phước Thị, xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 21/4/2022, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn ông LVH trình bày: Trong quá trình mua bán Vịt giống (Vịt 01 ngày tuổi) từ năm 2014 đến năm 2020, ông LVH đã bán cho anh NL (NVL) với số lượng 11.195 con Vịt giống, với tổng số tiền là 103.135.000 đồng; trong quá trình mua bán anh Lực mới chỉ trả được một số tiền. Ngày 31/8/2020, ông H và anh Lực đã lập Hợp đồng mua bán vịt giống và anh Lực đã ký biên bản xác nhận nợ với số tiền là 65.125.000 đồng (trong đó, nợ cũ là 48.550.000 đồng, nợ mới là 16.575.000 đồng); Hợp đồng thống nhất, trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng anh Lực phải trả hết số tiền còn nợ cho ông H; nếu quá thời hạn không trả thì anh Lực phải thanh toán lãi cho ông H với mức lãi suất 10%/năm. Ngày 29/12/2021 (âm lịch) anh Lực có trả cho ông H số tiền 1.000.000 đồng. Hiện anh Lực còn nợ số tiền gốc là 64.125.000 đồng. Ông H đã nhiều lần yêu cầu anh Lực trả số tiền trên nhưng anh Lực không trả.
Vì vậy, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh NL (NVL) phải thanh toán số tiền mua vịt giống còn nợ là 64.125.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/12/2020 đến ngày khởi kiện 21/4/2022 là 8.923.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 22/4/2022 đến ngày xét xử 15/8/2022 là 1.996.000 đồng. Tổng cộng là 75.044.000 đồng. Ngoài ra, anh Lực còn phải trả lãi cho đến khi trả hết số nợ gốc.
- Theo biên bản hoà giải và tại phiên toà hôm nay anh NL (NVL) trình bày: Anh NL thừa nhận còn nợ khoản tiền mua Vịt giống của ông LVH với số tiền là 64.125.000 đồng, theo hợp đồng mua bán Vịt giống và biên bản xác nhận nợ ngày 31/8/2020. Mặc dù, Hợp đồng có thoả thuận lãi 10%/năm nhưng do điều kiện việc chăn nuôi không thuận lợi và kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên đề nghị ông H không tính tiền lãi, còn số tiền gốc anh Lực xin được trả cho ông H một năm 10.000.000 đồng, thanh toán theo định kỳ ba tháng một lần, một lần trả 2.500.000 đồng. Trường hợp ông LVH không đồng ý thì đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Ông LVH không đồng ý với ý kiến của anh NL đề nghị Toà án buộc anh Lực phải trả nợ cho ông H cả gốc và lãi một lần.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền thụ lý vụ án, tư cách người tham gia tố tụng đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc xác minh, thu thập, giao nhận chứng cứ, ban hành các văn bản tố tụng, chấp hành thời hạn tố tụng và chuyển hồ sơ vụ án đúng hạn luật định. Tại phiên tòa, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về nội dung:
Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 357, 430, 440 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông LVH. Buộc anh NL (NVL) phải trả cho ông LVH số tiền mua Vịt giống còn nợ là 75.044.000 đồng; trong đó nợ gốc là 64.125.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 10.919.000 đồng.
Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, anh NL (NVL) phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về xác định quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông LVH khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh NL phải trả cho ông H số tiền gốc và lãi 75.044.000 đồng theo hợp đồng mua bán Vịt giống ngày 31/8/2020. Vì vậy, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 430 của Bộ luật dân sự.
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh NL (NVL) cư trú tại: thôn Phước Thị, xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.
Nội dung vụ án :
Chủ thể của hợp đồng:
Căn cứ Hợp đồng mua bán Vịt giống ngày 31/8/2020, thể hiện ông LVH có bán Vịt giống cho anh NL. Các chủ thể tham gia hợp đồng có năng Lực hành vi dân sự đầy đủ và xác nhận tự nguyện tham gia giao kết hợp đồng.
Xét hình thức và nội dung của hợp đồng:
Hình thức của Hợp đồng được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên tham gia hợp đồng.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, từ năm 2014 đến năm 2020 anh NL đã nhiều lần mua Vịt giống (Vịt giống 01 ngày tuổi) của ông LVH; ngày 31/8/2020, hai bên lập Hợp đồng mua bán Vịt giống và biên bản xác nhận nợ; theo đó, anh NL còn nợ ông LVH số tiền là 65.125.000 đồng (trong đó, nợ cũ là 48.550.000 đồng, nợ mới là 16.575.000 đồng), trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng anh Lực phải trả hết số tiền trên cho ông H; nếu quá thời hạn không trả thì anh Lực phải thanh toán lãi cho ông H với mức lãi suất 10%/năm. Tuy nhiên, sau khi ký hợp đồng ngày 29/12/2021 (âm lịch) anh Lực chỉ mới trả cho ông H số tiền 1.000.000 đồng, số tiền còn nợ là 64.125.000 đồng.
Như vậy, khi ký kết hợp đồng mua bán Vịt giống nguyên đơn và bị đơn có đầy đủ năng Lực hành vi dân sự; việc ký kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện; hình thức và nội dung của Hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
[2.3] Về số nợ gốc: Tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa, bị đơn thừa nhận còn nợ ông LVH số tiền gốc khi mua Vịt giống là 64.125.000 đồng như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 BLTTDS thì số tiền nợ gốc là tình tiết không cần phải chứng minh. Như vậy, có đầy đủ cơ sở khẳng định anh NL còn nợ ông LVH số tiền gốc khi mua Vịt giống là 64.125.000 đồng.
Đối với yêu cầu tiền lãi:
Tại Điều 2 của Hợp đồng mua bán Vịt giống ngày 31/8/2020, giữa ông LVH và anh NL có thoả thuận: “ Bên mua (bên B) có trách nhiệm thanh toán cho bên bán (bên A) số tiền mua Vịt giống; trong thời hạn 90 ngày; kể từ ngày bên mua (bên B) nhận được Vịt giống từ trang trại của bên bán (bên A) thì phải trả tiền cho bên A. Quá thời hạn nêu trên bên mua không thanh toán cho bên bán tiền Vịt giống thì ngoài số tiền Vịt giống còn nợ bên mua phải thanh toán cho bên bán số tiền lãi phát sinh tương ứng với thời gian chậm trả tiền, theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, với mức lãi suất 10%/năm”. Anh NL thừa nhận có sự thoả thuận như trên. Tuy nhiên, do điều kiện làm ăn khó khăn nên đề nghị không tính lãi.
Thấy rằng, nghĩa vụ trả tiền khi mua bán tài sản được quy định tại Điều 440 của Bộ luật dân sự: “1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng”. Do anh NL không thực hiện nghĩa vụ trả tiền đúng thời hạn quy định thì anh Lực phải trả lãi trên số tiền chậm thanh toán theo quy định tại khoản 2 Điều 440 của Bộ luật dân sự.
Xét thấy, mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng mua bán Vịt giống ngày 31/8/2020 không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận mức lãi mà các đương sự đã thỏa thuận 10%/năm.
Về thời gian tính lãi: Thời gian tính lãi bắt đầu tính từ ngày 01/12/2020 (sau 90 ngày, kể từ ngày ký Hợp đồng ngày 31/8/2020) cho đến ngày xét xử sơ thẩm 15/8/2022, là 01 năm 08 tháng 13 ngày.
Từ những phân tích nêu trên, thấy rằng: Sau khi ký kết Hợp đồng mua bán Vịt giống ngày 31/8/2020, đến hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng anh NL không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông LVH và ý kiến về giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh. Buộc anh NL phải trả cho ông LVH số tiền nợ gốc khi mua Vịt giống là 64.125.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 15/8/2022, với mức 10%/năm là 10.919.000 đồng (01 năm 08 tháng 13 ngày x 64.125.000 đồng x 10%/năm); tổng cộng là 75.044.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là (75.044.000 đồng x 5% = 3.752.000 đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 và Điều 264 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 357, 430, 440 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông LVH. Buộc anh NL (NVL) phải trả cho ông LVH số tiền mua Vịt giống còn nợ là 75.044.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn đồng); trong đó nợ gốc là 64.125.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 10.919.000 đồng.
Kể từ ngày 16/8/2022, anh NL phải tiếp tục trả lãi đối với khoản nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán Vịt giống ngày 31/8/2020 (10%/năm) cho đến khi trả hết nợ gốc.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Anh NL (Lê Văn Lực) phải chịu 3.752.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông LVH số tiền 1.830.875 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số CC/2021/0000127 ngày 05/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Gio Linh; - Đương sự; - Chi cục THADS huyện Gio Linh; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Vũ Ngọc Châu |