vanban.org

Bản án 10/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 19/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đăng K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/07/2020. Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH THUẬN
Bản án số: 10/2021/HSST
Ngày 19/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bình.

2. Bà Lê Thái Thị Kim Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đào Nhã Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2020/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HS, ngày 06/01/2021 đối với bị cáo:

TRẦN ĐĂNG K, Sinh năm 1983, tại Tiền Giang.

Nơi ĐKHKTT: Ấp Tân Phú 2, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi tạm trú: Thôn Đ, xã N, huyện S, tỉnh Ninh Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12; con ông Trần Văn M, sinh năm 1961 và bà Lê Thị H, sinh năm 1963; Anh chị em ruột có 03 người lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1997. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ Phạm Thị H, sinh năm 1972; có 01 người con, sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 13/4/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 5 năm tù theo bản án số 39/HSST về tội “Cướp giật tài sản”.

- Ngày 11/12/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử 3 năm tù theo bản án số 230/HSPT về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt ngày 28/07/2020, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm (bị cáo có mặt ).

* Người bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Khu phố 6, phường P, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Khu phố 7, phường P, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định trộm cắp cây lan rồi đem về nhà trồng và chăm sóc nên Trần Đăng K đã thực hiện trộm cắp cây lan trên địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm. Cụ thể như sau:

+ Vụ thứ nhất: Vào khoảng 04 giờ ngày 20 tháng 7 năm 2020, Trần Đăng K điều khiển xe mô tô, hiệu Mio (không rõ biển kiểm soát), đi lòng vòng tìm kiếm nhà dân có cây lan để trộm cắp. Khi đến khu vực thuộc KP.6, phường P, thành phố P, Khoa phát hiện nhà chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1977, HKTT: KP6, phường P, thành phố P), treo một số cây lan trước nhà, Trần Đăng K đã lấy 01 chậu lan Giả Hạc, 14 cây lan Giả Hạc, 02 cây lan Ngọc Điểm, 01 cây lan Hồ Điệp, 01 bụi lan Thủy Tiên, rồi đem về nhà tại Thôn Đ, xã N, huyện S, tỉnh Ninh Thuận để trồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 109 ngày 20 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đối với tài sản thu hồi được, kết luận:

- 01 cây lan Giả Hạc gồm có 5 nhánh, nhánh dài nhất dài khoảng 1,3m, được đựng trong chậu làm bằng sành, hình tròn có đường kính khoảng 15cm, cây còn tươi sống, tại thời điểm bị mất trộm vào tháng 7/2020 có trị giá là 2.000.000 đồng.

- 01 cây lan Ngọc Điểm, số lượng lá trung bình từ 14 lá đến 30 lá, cây còn tươi sống, tại thời điểm bị mất trộm vào tháng 7/2020 có trị giá là 450.000 đồng.

- 01 cây lan Hồ Điệp tại thời điểm bị mất trộm vào tháng 7/2020 có trị giá là 70.000 đồng.

- 01 cây lan Thủy Tiên gồm 16 nhánh, dài khoảng 60cm, cây còn tươi sống, tại thời điểm bị mất trộm vào tháng 7/2020 có trị giá là 350.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 110 ngày 20 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đối với tài sản bị thất lạc, không thu hồi được, kết luận:

- 14 cây Giả Hạc, cao khoảng từ 50cm - 80cm, cây còn tươi sống, tại thời điểm bị mất trộm vào tháng 7/2020, có trị giá là 300.000 đồng x 14 = 4.200.000 đồng.

- 01 cây lan Ngọc Điểm có từ 09 lá – 14 lá, tại thời điểm bị mất trộm vào tháng 7/2020 có trị giá là 200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vụ thứ nhất là: 7.270.000 đồng (Bảy triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

+ Vụ thứ hai: Biết nhà chị Hoàng Thị L (sinh năm 1979, HKTT: KP7, phường P, thành phố P) có treo một số cây lan trong sân nhà nên vào khoảng 04 giờ ngày 24 tháng 7 năm 2020, Trần Đăng K điều khiển xe mô tô, hiệu Dealim Citi 100, màu đỏ đen, BKS 52M4 – 5169 đến nhà chị L để trộm cắp. Trần Đăng K sử dụng một cây kìm cắt lưới B40 rồi vào trong sân nhà chị Lan lấy 30 cây lan Ngọc Điểm, sau đó đem về nhà trồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 70 ngày 29 tháng 7 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đối với tài sản thu hồi được, kết luận:

- 30 cây lan Ngọc Điểm chiều cao trung bình từ 25cm – 35cm, số lượng lá trung bình từ 14 lá đến 30 lá, tại thời điểm bị trộm cắp vào ngày 24/7/2020 có trị giá là 13.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vụ thứ hai là: 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bản Cáo trạng số: 151/CT-VKS-PRTC, ngày 23 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố Trần Đăng K về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Đăng K và đề nghị Hội đồng xét xử cụ thể như sau:

Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Đăng K từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo Trần Đăng K nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về việc làm sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại chị Nguyễn Thị H, chị Hoàng Thị L, các Kết luận về định giá tài sản và các chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để xác định: Vào các ngày 20/7/2020 và ngày 24/7/2020, tại phường P, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Trần Đăng K đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản là cây lan của chị Nguyễn Thị H và của chị Hoàng Thị L với tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 20.770.000đ (Hai mươi triệu bảy trăm, bảy mươi nghìn đồng).

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm truy tố bị cáo Trần Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Trần Đăng K đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần thiết phải xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 13/4/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 5 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” ; Ngày 11/12/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử 3 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Lẽ ra, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo phải sống lương thiện để sửa chữa những lỗi lầm mà mình đã gây ra nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Điều đó thể hiện bị cáo không ăn năn hối cải về những hành vi phạm tội trước đây của mình.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Đăng K có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Căn cứ Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao thì bị cáo không thuộc trường hợp được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo Trần Đăng K mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, những người bị hại chị Nguyễn Thị H và chị Hoàng Thị L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo Trần Đăng K, xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề xuất mức án là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trao trả cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị H gồm:

- 01 cây lan Giả Hạc gồm có 5 nhánh, nhánh dài nhất dài khoảng 1,3m, được đựng trong chậu làm bằng sành, hình tròn có đường kính khoảng 15cm, cây còn tươi sống.

- 01 cây lan Ngọc Điểm, số lượng lá trung bình từ 14 lá đến 30 lá, cây còn tươi sống.

- 01 cây lan Hồ Điệp, cây còn tươi sống.

- 01 cây lan Thủy Tiên gồm 16 nhánh, dài khoảng 60cm, cây còn tươi sống.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ và trao trả cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị L gồm:

- 30 cây lan Ngọc Điểm, chiều cao trung bình từ 25cm – 35cm, số lượng lá trung bình từ 14 lá đến 30 lá.

- Đối với: 14 cây lan Giả Hạc, cao khoảng từ 50cm - 80cm và 01 cây lan Ngọc Điểm có từ 09 lá – 14 lá, do các cây lan trên đã bị chết trong quá trình Khoa trồng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được.

- Đối với: 01 xe mô tô hiệu Mio, không rõ biển kiểm soát. Sau khi sử dụng làm phương tiện phạm tội K đã bán, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được.

- 01 xe mô tô hiệu Daelim Citi 100, màu đỏ đen, BKS 52M4 – 5169, hiện chưa xác định được nguồn gốc, chủ sở hữu, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

- 01 kìm sắt dài 18cm, lưỡi bằng sắt màu đen, cán bằng nhựa, màu đỏ đen. Đây là công cụ mà bị cáo Trần Đăng K sử dụng vào việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Zip Mobile, màu trắng xanh đen và số tiền: 1.631.000 đồng, đây là tài sản riêng của Trần Đăng K, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo Trần Đăng K là có căn cứ.

* Ngoài các vụ trộm cắp cây lan nói trên, Trần Đăng K còn thực hiện 03 vụ trộm cắp cây lan của anh Phạm Trọng L (sinh năm 1983, cư trú tại KP.10, phường P, thành phố P); của anh Nguyễn Hữu C (sinh năm 1985, HKTT: số 34 Lê Quý Đ, KP.7, phường P, thành phố P); của chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1970, HKTT: KP.5, phường H, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm). Những lần trộm cắp này không diễn ra kế tiếp nhau về mặt thời gian và giá trị tài sản mỗi lần bị chiếm đoạt chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Đăng K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Đội Điều tra tổng hợp Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm để xử phạt hành chính là có căn cứ.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp nhận tố giác về tội phạm của anh Dương Văn Q (sinh năm 1988, HKTT: KP.6, phường H, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm) về việc anh Dương Văn Q bị mất trộm tài sản là cây lan. Tại vườn lan của K, anh Dương Văn Q phát hiện có một số cây lan giống với cây lan của anh Dương Văn Q bị trộm cắp. Tuy nhiên, Trần Đăng K khai nhận các cây lan này là do K mua lại của người khác. Do không có tài liệu, chứng cứ khác thể hiện Trần Đăng K có hành vi trộm cắp tài sản tại nhà anh Dương Văn Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, đề nghị xử lý sau là phù hợp.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ một số cây lan có liên quan đến các vụ trộm cắp nêu trên và đã tiến hành trao trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp và họ không có yêu cầu dân sự gì khác.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại là chị Nguyễn Thị H, chị Hoàng Thị L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Trần Đăng K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 1 điều 173, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Trần Đăng K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/07/2020.

3. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng: Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy : 01 kìm sắt dài 18cm, lưỡi bằng sắt màu đen, cán bằng nhựa, màu đỏ đen theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/ 01/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm.

Tiếp tục giao cho Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 xe mô tô hiệu Daelim Citi 100, màu đỏ đen, BKS 52M4 – 5169, để xác minh làm rõ, xử lý sau.

4. Về án phí:

Áp dụng : Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Đăng K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo Trần Đăng K quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/01/2021); vắng mặt những người bị hại: Chị Nguyễn Thị H và chị Hoàng Thị L, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ