vanban.org

Bản án 10/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 05/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên bố: Tịch thu tiêu hủy 09 khối pháo nổ còn lại hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn L phạm tội Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2021/HSST
Ngày 05 tháng 02 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Phú

Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Trung, bà Nguyễn Thị Hà.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Anh – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Nam Đàn.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tham gia phiên toà: Ông Đậu Công Hữu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/HSST ngày 08/01/2021đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Văn L - Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1978 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm xx, xã NK, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 07/12. Con ông Bùi Thế Đ và bà Võ Thị T. Có vợ: Dương Thị T, sinh năm 1981 và có 02 người con; con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2009. Tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 21/8/2019, bị Công an thành phố Vinh xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành xong ngày 27/8/2019.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/12/2020 đến ngày 17/12/2020 thì được tại ngoại. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm xx, xã NK, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biết tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 08/12/2020, Bùi Văn L đi đến cầu Thọ Tường thuộc thôn Thọ Tường, xã Liên Minh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh để gặp một người đàn ông không quen biết mua 10 (mười) khối pháo hình hộp chữ nhật, bọc giấy phía ngoài nhiều màu sắc cùng loại, có chữ nước ngoài, mỗi khối có kích thước (14x14x12) cm, với giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). Sau khi mua xong, Bùi Văn L đem số pháo trên về cất giấu trong phòng ngủ của mình tại xóm xx, xã NK, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An với mục đích Tết nguyên đán đưa ra sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Văn L đưa số pháo trên ra sân nhà mình để phơi thì bị Công an huyện Nam Đàn phát hiện, bắt giữ.

Ngày 08/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Đàn đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng và niêm phong lại đối với số pháo thu giữ của Bùi Văn L gồm 10 (mười) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (14x14x12) cm có tổng khối lượng là 13.3 kg (mười ba phẩy ba kilôgam).

Tại bản kết luận giám định số 295/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 14/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu vật thu giữ của Bùi Văn L gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ)”.

Về vật chứng vụ án gồm: 01 bao xác rắn màu cam bên trong đựng 10 (mười) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (14x14x12) cm thu giữ của Bùi Văn L, sau khi lấy 01 khối hình hộp chữ nhật gửi giám định còn lại 09 (chín) khối hình hộp chữ nhật và các túi ni lông màu đen, vỏ thùng giấy cát tông, được niêm phong, bảo quản đúng quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văm L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKS-NĐ ngày 08/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đã truy tố: Bùi Văn L về tội “ Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Bùi Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó,Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt: đề nghị tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Bùi Văn L từ 03 – 04 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 09 khối pháo.

Bị cáo không tranh luận gì, xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở để kết luận Bùi Văn L phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/12/2020, tại nhà của mình thuộc xóm xx, xã NK, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; Bùi Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 13,3kg (mười ba phẩy ba kilôgam) pháo (có đầy đủ đặc tính của pháo nổ) với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Do đó,Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý các loại hàng cấm, trong đó có pháo làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với toàn xã hội.

Xét bị cáo quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có Bác là Liệt sỹ, cha đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt với mức án như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán pháo cho Bùi Văn L, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét bị cáo là lao động tự do, việc làm,thu nhập không ổng định nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: Tang vật của vụ án còn lại 09 pháo, đây là vật Nhà nước cấm buôn bán, tàng trữ, sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt Bùi Văn L từ 03 – 04 tháng và tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về việc xử lý toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt: Xử phạt Bùi Văn L 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/12/2020 đến ngày 17/12/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên bố:

Tịch thu tiêu hủy 09 khối pháo nổ còn lại hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/02/2021).

5. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ