- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Kim T phạm tội Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2021/HS-ST Ngày: 04-02-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tâm.
Bà Hoàng Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tú Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Hồ Sỹ Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 15/01/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 09/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:
Trần Thị Kim T, sinh ngày 20/10/1985 tại Đông Hà, Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn LP, xã T, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Tri; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thế Tín và con bà Nguyễn Thị Điều; Có chồng Võ P và có 03 con chung, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm: 2020; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Võ P, sinh năm: 1981; nơi cư trú: Thôn LP, xã T, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ái H, sinh năm: 1973, nơi cư trú: Thôn LP, xã T, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 04 giờ 40 phút ngày 06/8/2020, tại thôn Làng Vây, xã T, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Đội Cảnh sát kinh tế Công an huyện Hướng Hóa phối hợp với lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ, phát hiện đối tượng Trần Thị Kim T, sinh năm 1985, trú tại thôn LP, xã T, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 74H1-25060 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, phát hiện T đang vận chuyển 15 hộp giấy (nghi là pháo) được đựng trong 02 túi xách cá nhân, bên trong mỗi hộp có 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, bên ngoài vỏ hộp có họa tiết hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu C0836, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật vào một thùng giấy carton (ký hiệu CA01).
Quá trình điều tra, Trần Thị Kim T khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 05/8/2020 T nhận được điện thoại của một người phụ nữ gọi đến thuê T vận chuyển 15 hộp pháo về Đông Hà với giá 300.000đồng tiền công, T đồng ý, hai người giao dịch với nhau về việc vận chuyển pháo, người phụ nữ nói khoảng một tiếng sau có người chở pháo đến để ở ngã ba gần nhà Phương Hòa (thuộc thôn LP, xã T) và bảo T đến lấy đưa về cầu vượt Đông Hà sẽ có người đến nhận và trả tiền công. T hẹn sáng mai khoảng 06 giờ đến 06 giờ 30 phút sẽ giao pháo tại khu vực cầu vượt Đông Hà. Theo lời đã hẹn, khoảng 01 tiếng đồng hồ sau T đi bộ từ nhà đến khu vực ngã ba gần nhà Phương Hòa thì nhìn thấy có một bao ni long màu đen đã được đặt sẵn ở bãi đất trống, bên trong bao ni long màu đen có 15 hộp pháo. T lấy toàn bộ số pháo đem về để ở bên hong trái bên ngoài khu vực nhà ở của T. Khoảng 04 giờ sáng ngày 06/8/2020, T mang theo 02 túi xách và bỏ 09 hộp pháo vào túi xách màu xám, cột phía sau xe mô tô; 06 hộp pháo vào túi xách màu đen và đặt ở vị trí trên giá đỡ của hõm xe mô tô. Sau đó T điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 74H1-250.60 đến khu vực nhã ba đường liên thôn thuộc thôn LP, xã T, huyện Hướng Hóa gặp chị Nguyễn Thị Ái H (sinh năm 1973, trú cùng thôn) đang đứng đợi để đi nhờ xe của T về thành phố Đông Hà. Trên đường đi đến khu vực thôn Làng vây, xã T, huyện Hướng Hóa thì bị phát hiện, bắt quả tang như trên.
Vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 06/8/2020, lực lượng chức năng tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Trần Thị Kim T phát hiện và thu giữ 01 hộp giấy, bên trong có 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, bên ngoài vỏ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, trên vỏ hộp có ký hiệu C0836 (được niêm phong, ký hiệu CA02) của anh Võ P mua về để sử dụng.
Kết luận giám định số 637/KLGĐ-PC 09 ngày 18/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy các tông ký hiệu CA01 gửi đến giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), khối lượng 20,9kg.
Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy các tông ký hiệu CA02 gửi đến giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Khối lượng 1,3kg.
Vật chứng, đồ vật tạm giữ:
- 15 hộp pháo, bên trong mỗi hộp có 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, bên ngoài vỏ hộp có họa tiết hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu C0836. Sau giám định hoàn lại 14 hộp pháo, được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông được ký hiệu là MT01.
- 01 hộp pháo, bên trong mỗi hộp có 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, bên ngoài vỏ hộp có họa tiết hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu C0836. Quá trình giám định đã sử dụng hết.
- 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 74H1-25060, nhãn hiệu Honda, loại xe: Wave, màu sơn: Đỏ - Đen – Bạc, số khung: RLHJA3914KY460233, số máy JA39E1331331.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 017161 mang tên Trần Thị Kim T.
- 01 thẻ sim điện thoại số 0942840925, trên thẻ sim có 02 dãy số 898402000 và 11130155748.
- 01 túi xách màu xám.
- 01 túi xách màu đen.
Kết luận định giá tài sản số 44/BKLĐGTS ngày 24/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe: Wave, màu sơn: đỏ, đen, bạc, số khung: RLHJA3914KY460233, số máy JA39E1331331, biển kiểm soát 74H1-25060, xe đã qua sử dụng trị giá 14.392.000đồng.
Bản cáo trạng số: 09/CT-VKSHH ngày 14 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Trần Thị Kim T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s, n khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Kim T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số lượng pháo nổ còn lại sau giám định gồm 14 hộp pháo được niêm phong trong 01 thùng giấy cát tông được ký hiệu MT 01 có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và 01 túi xách màu đen; 01 túi xách màu xám của Trần Thị Kim T và 01 thẻ sim điện thoại số 0942840925, trên thẻ sim có 02 dãy số: 898402000 và 11130155748.
Tịch thu và buộc bị cáo Trần Thị Kim T phải nộp vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, biển kiểm soát 74H1 – 250.60 tương ứng số tiền 7.196.000đồng.
Trả lại cho anh Võ P xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, biển kiểm soát 74H1 – 250.60 màu sơn đỏ, đen, bạc, xe đã qua sử dụng và giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy 74H1 – 250.60 mang tên Trần Thị Kim T.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH buộc bị cáo Trần Thị Kim T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Thị Kim T trình bày lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi vận chuyển 15 hộp pháo về thành phố Đông Hà để nhận tiền công, trên đường về đến thôn Làng vây, xã T thì bị bắt giữ. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Võ P trình bày ý kiến: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 74H1-250.60 xe đã qua sử dụng và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 74H1-250.60 mang tên Trần Thị Kim T là tài sản chung của vợ chồng, công sức đóng góp là ngang nhau. Khi bị cáo Trần Thị Kim T dùng làm phương tiện để vận chuyển pháo thì anh P không biết nên có nguyện vọng được nhận lại để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi bị truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định ngày 06/8/2020 bị cáo Trần Thị Kim T điều khiển xe mô tô 74H1-250.60 chở 15 hộp pháo (trong mỗi hộp có 36 ống hình trụ tròn liên kết với nhau), có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, có khối lượng 20,9kg từ xã Tân Long, huyện Hướng Hóa về thành phố Đông Hà để lấy tiền công. Khi bị cáo T điều khiển xe đến thôn Làng Vây, xã Tân Long, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị thì bị Đội cảnh sát kinh tế Công an huyện Hướng Hóa cùng lực lượng phối hợp phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với hàng hóa là pháo nổ. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Thị Kim T đã phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” với tình tiết định tội “ Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Trần Thị Kim T đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội khi đang mang thai nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Thị Kim T được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Hiện bị cáo Trần Thị Kim T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Vì vậy, cần tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Thị Kim T cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
Sau giám định hoàn lại 14 hộp pháo, vỏ ngoài bọc giấy có ký hiệu C0836 được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông được ký hiệu là MT01; dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng chó chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị niêm phong kín là vật cấm lưu hành (Vật chứng hiện tại đang do Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý); 01 túi xách màu đen; 01 túi xách màu xám và 01 thẻ sim điện thoại số 0942840925, trên thẻ sim có 02 dãy số: 898402000 và 11130155748 là vật chứng mà bị cáo sử dụng liên lạc vận chuyển pháo được thu giữ trong quá trình điều tra của bị cáo Trần Thị Kim T đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số vật chứng nêu trên.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn đen, xám, bạc, số khung RLHJA3914KY460233, số máy JA39E1331331, biển kiểm soát 74H1-250.60 và giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy 74H1-250.60 mang tên Trần Thị Kim T, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Trần Thị Kim T và anh Võ P thừa nhận đây là tài sản chung của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, khi bị cáo dùng xe mô tô để vận chuyển Pháo thì anh P không biết. Tại phiên tòa, bị cáo T và anh P thống nhất công sức đóng góp của vợ chồng tạo lập tài sản của mỗi người là ½ trị giá chiếc xe mô tô; đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ trị giá chiếc xe mô tô là phần trị giá tài sản của bị cáo được hưởng là có căn cứ. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước ½ trị giá chiếc xe mô tô biển kiểm soát 74H1-250.60 theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Hướng Hóa ngày 24/9/2020 tương ứng số tiền 7.196.000đồng là phần tài sản của bị cáo.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho anh Võ P chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, đen, xám, bạc số khung RLHJA3914KY460233, số máy JA39E1331331, biển kiểm soát 74H1-250.60, xe đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 017161 mang tên Trần Thị Kim T.
Vật chứng hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Thị Kim T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các vấn đề khác: Bị cáo Trần Thị Kim T khai nhận vào đêm 05/8/2020 có một người phụ nữ đã gọi vào số máy của bị cáo T để thuê vận chuyển pháo về Đông Hà. Quá trình điều tra không xác định rõ lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Đối với hành vi tàng trữ 1,3kg pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ của anh Võ P bị lực lượng chức năng phát hiện khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị Kim T. Công an huyện Hướng Hóa đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Võ P về hành vi sử dụng pháo là đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s, i, n khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim T 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/02/2021).
Giao bị cáo Trần Thị Kim T cho Ủy ban nhân dân xã Tân Long, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp bị cáo Trần Thị Kim T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
Tịch thu, tiêu hủy số lượng pháo nổ còn lại sau giám định:14 hộp pháo, vỏ ngoài bọc giấy có ký hiệu C0836 được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông được ký hiệu là MT01; dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng chó chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị niêm phong kín; 01 túi xách màu đen và 01 túi xách màu xám và 01 thẻ sim điện thoại số 0942840925, trên thẻ sim có 02 dãy số: 898402000 và 11130155748 của Trần Thị Kim T.
Buộc bị cáo Trần Thị Kim T phải nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 7.196.000đồng (½ trị giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, đen, xám, bạc số khung RLHJA3914KY460233, số máy JA39E1331331, biển kiểm soát 74H1-250.60).
Trả lại cho anh Võ P chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, đen, xám, bạc số khung RLHJA3914KY460233, số máy JA39E1331331, biển kiểm soát 74H1-250.60, xe đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 017161 mang tên Trần Thị Kim T do Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 18/02/2020.
Vật chứng là pháo nổ hiện tại đang do Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý.
Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý và có đặc điểm được mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị Kim T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 04/02/2021.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Hướng Hóa; - Công an huyện Hướng Hóa; - Chi cục THA.DS huyện Hướng Hóa; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Hồ sơ Thi hành án hình sự; - UBND xã Tân Long; -Tổ HCTP; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trung |