vanban.org

Bản án 10/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai Tuyên án 11/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Phân công: Hội thẩm nhân dân Lê Đình Hưng, Nguyễn Văn Diệp và Hội thẩm dự khuyết Đinh Văn Lộc, Lê Thị Phụng.

Tiến hành tố tụng, xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2020/HSST ngày 16/01/2020 đối với bị cáo Rơ Châm Pim bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G truy tố về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ông (Bà) có tên tại Điều 1 Quyết định này thực hiện nhiệm vụ, quyền h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HỒ HỮU H "TRỘM CẮP TÀI SÀN" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Phân công: Hội thẩm nhân dân Lê Đình Hưng, Nguyễn Văn Diệp và Hội thẩm dự khuyết Đinh Văn Lộc, Lê Thị Phụng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2021/HSST
Ngày 09 tháng 4 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH G

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thanh

- Các Hội thẩm nhân dân:Ông (bà) Lê Đình Hưng, ông Võ Minh Khôi

-Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thái Nam

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Vũ - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 09 tháng 4 năm 2021, tạị Hội trường xét xử, Toà án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2021/HSST ngày 12 tháng 03 năm 2021, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/ QĐXXST-HSngày 24 tháng 03 năm 2021 đối với:

-Bị cáo:

Hồ Hữu H - Tên gọi khác : Không.

Sinh năm 1994 tại huyện Đ, tỉnh G

Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh G.

Nghề nghiệp: Làm nông. - Trình độ học vấn: 9/12 . - Dân tộc: Kinh

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Hồ Hữu T và bà Trần Thị Đ

Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh G.

Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự và Nhân thân: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 25 tháng 12 năm 2020 cho đến nay.

( có mặt).

- Bị hại:

Anh Trần Hữu T(SN 1988),

Địa chỉ: Làng Ngol Rông, xã K, huyện Đ, tỉnh G ( có mặt)

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần văn H, sinh năm 1962

Nơi cư trú: Thôn Ia Lâm, xã K, huyện Đ, tỉnh G. (có mặt)

Ông Hồ Hữu T, sinh năm 1963

Cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn Chư ty, huyện Đ, tỉnh G. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng, vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 23/11/2020, bị cáo Hồ Hữu H điều khiển xe mô tô BKS 81U1- 102.04 từ quán karaoke Nguyên Sang ở thị trấn Chư ty, huyện Đ, tỉnh G đến nhà bị hại Trần Hữu Tđể mượn tiền. Khi đến nơi không có anh Tở nhà, bị cáo gọi điện thoại anh Tkhông nghe máy. Lúc này, H mở cửa đi vào trong nhà và nhìn thấy chiếc máy cưa lốc nhãn hiệu STIHL SM660 của gia đình anh Tđể dưới gầm giường. H quan sát trong nhà không thấy ai nên đã nảy sinh lấy trộm chiếc cưa lốc. H lén lút lấy trộm chiếc máy cưa lốc đem đến tiệm cầm đồ H2 (Hằng Hưng) thuộc thôn Ia Lâm, xã K gặp cho ông Trần Văn H chủ tiệm đã cầm cố chiếc máy cưa lốc lấy 2.000.000 đồng ( Hai triệu đồng). Đến ngày 24/11/2020, H đến Công an xã K, huyện Đ đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc máy cưa lốc nhãn hiệu STIHL SM660 của gia đình anh Thủy.

Tại kết luận định giá tài sản số 52 ngày 07/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ.

Kết luận về giá của tài sản: Tại thời điểm tháng 11/2020.

01 máy cưa lốc màu cam trắng nhãn hiệu STIHL- MS 660, đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong. Máy được mua vào tháng 9/2020 giá 21.000.000 đồng ( Hai mươi mốt triệu đồng), giá trị còn lại là 97%, giá trị định giá là: 20.370.000 đồng ( Hai mươi triệu ba trăm bảy mươi ngàn đồng).

Ngày 25 tháng 12 năm 2021 của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh G đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hồ Hữu H.

Tại Bản cáo trạng số:08/CT-VKS ngày 10 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G đã truy tố bị cáo Hồ Hữu H về tội " Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

*Đại diện Viên kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà luận tội, nêu quan điểm xử lý vụ án:

Giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Hồ Hữu H về tội “ Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như : Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả thiệt hại do bản thân gây ra cho bị hại; đến cơ quan công an xã K, huyện Đ đầu thú, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ nhận định phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

-Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Hữu H phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

-Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự

Xử phạt: Bị cáo Hồ Hữu H từ 12 ( mười hai) đến 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

-Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, bồi thường, không yêu cầu gì, nên không đề nghị xem xét.

-Về xử lý vật chứng: Sau khi xác định chiếc máy cưa lốc nhãn hiệu STIHL-MS 660 bị cáo đã chiếm đoạt là tài sản hợp pháp của bị hại anh Trần Hữu Tvà xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen đỏ; số máy 1PB3016150; số khung PB30DY016154; BKS 81U1- 102.04 bị cáo đã sử dụng đi trộm cắp tài sản là tài sản hợp pháp của ông Hồ Hữu T. Nên cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Thủy, ông T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

*Bị hại anh Trần Hữu Ttrình bày:

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, đã được nhận lại tài sản (chiếc máy cưa lốc) và 1.000.000đ tiền bồi thường, nên không yêu cầu gì thêm.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H trình bày:

Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã trả lại số tiền 2.000.000đ, nên không yêu cầu gì thêm.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Hữu T trình bày:

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, đã nhận lại tài sản (chiếc xe mô tô), nên không yêu cầu gì.

-Tại phiên toà bị cáo, bị hại , người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; kết luận định giá tài sản. Bị cáo nói lời sau cùng xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Hồ Hữu H khai nhận rõ hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc máy cưa lốc nhãn hiệu STIHL- MS 660 của bị hại Trần Hữu Thủy, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố đối với bị cáo. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Hồ Hữu H về tội " Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ.

Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại, bị cáo có đủ nhận thức để biết là trái pháp luật và trái đạo đức xã hội, sẽ bị nghiêm trị, nhưng bị cáo đã bất chấp. Mặt khác bị cáo là người thành niên có sức khỏe, nhưng lười lao động, lại muốn có tiền nhanh để tiêu xài ăn nhậu mà không muốn hao tốn mồi hôi công sức, nên đã không ngần ngại trộm cắp ngay cả tài sản của người thân.

Do đó để tuyên truyền pháp luật và phòng chống tội phạm, nên cần thiết phải xử lý nghiêm và xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả; sau khi trộm cắp tài sản đã đến cơ quan công an xã K, huyện Đ đầu thú, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo khai không có tài sản riêng cũng không có tài sản chung gì, nên không cần thiết xử phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai nhận đã nhận lại tài sản, nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với những người liên quan: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H, ông Hồ Hữu T khai hoàn toàn không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô đi trộm cắp tài sản, không biết tài sản (chiếc máy cưa lốc) do trộm cắp mà có. Nên cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Sau khi xác định chiếc máy cưa lốc màu cam trắng nhãn hiệu STIHL- MS 660 bị cáo chiếm đoạt là tài sản của anh Trần Hữu Tvà xác định 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen đỏ; số máy 1PB3016150; số khung PB30DY016154; BKS 81U1- 102.04 bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản là tài sản của ông Hồ Hữu T. Nên cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Thủy, ông T là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính hợp pháp của hành vi và quyết định tố tụng: Quá trình Điều tra , Truy tố; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, nên không đề cập xem xét.

Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hồ Hữu H phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

-Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38, 50; điểm b, i, s khoản1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt các bị cáo Hồ Hữu H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành án.

-Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Hồ Hữu H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay (09/4/2021) bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩmphán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:

- Công an huyện;

- Viện kiểm sát huyện;

- CCTHADS huyện;

- TAND tỉnh;

- Bị cáo;bị hại

- Sở tư pháp;

- CQTHAHS;

- Người bào chữa

Nguyễn Văn Thanh

- Lưu HS. TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN Đ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

TỈNH G

Số:08/2020/QĐ-TA

Đ, ngày 24 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Phân công Thẩm phán giải quyết, xét xử vụ án hình sự

CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ- TỈNH G

Căn cứ Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Phân công: Ông (Bà) Nguyễn Thị Kim Thoa, Chức vụ (chức danh) Thẩm phán

Tiến hành giải quyết, xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2020/HSST ngày 16/01/2020 đối với bị can (bị cáo) Nguyễn Đức Nam bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G truy tố (xét xử) về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 2

Ông (Bà) có tên tại Điều 1 quyết định này thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định tại Điều 45 Bộ luật tố tụng hình sự để bảo đảm việc giải quyết, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Nơi nhận:

CHÁNH ÁN

- Như Điều 2;

- VKSND huyện

- BC, BH…

- Lưu hồ sơ vụ án.

NGUYỄN THỊ KIM THOA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN Đ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

TỈNH G

Số:08/2020/QĐ-TA

Đ, ngày 24 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Phân công Thƣ ký tiến hành tố tụng vụ án hình sự

CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ- TỈNH G

Căn cứ Điều 44 và Điều 47 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Phân công: Bà Đoàn Thị Minh Chinh, Chức vụ (chức danh) Thư ký

Tiến hành tố tụng vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2020/HSST ngày 16/01/2020 đối với bị can (bị cáo) Nguyễn Đức Nam bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G truy tố (xét xử) về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 2

Ông (Bà) có tên tại Điều 1 quyết định này thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định tại Điều 47 Bộ luật tố tụng hình sự để bảo đảm việc giải quyết, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Nơi nhận:

CHÁNH ÁN

- Như Điều 2;

- VKSND huyện

- BC, BH…

- Lưu HSVA.

NGUYỄN THỊ KIM THOA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN Đ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

TỈNH G

Số:08/2020/QĐ-TA

Đ, ngày 24 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Phân công Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án hình sự

CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ- TỈNH G

Căn cứ Điều 44 và Điều 46 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Phân công: Hội thẩm nhân dân Lê Đình Hưng, Nguyễn Văn Diệp và Hội thẩm dự khuyết Đinh Văn Lộc, Lê Thị Phụng.

Tiến hành tố tụng, xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2020/HSST ngày 16/01/2020 đối với bị cáo Rơ Châm Pim bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G truy tố về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 2

Ông (Bà) có tên tại Điều 1 Quyết định này thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định tại Điều 46 Bộ luật tố tụng hình sự để bảo đảm việc giải quyết, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Cỡ chữ