vanban.org

Bản án 10/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 07/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:Hoàng Thanh D: 09(Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/10/2020. *Các biện pháp tư pháp:Căn cứ Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 và Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thanh Dần phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2021/HS-ST
Ngày: 07 - 01 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Vĩ;

Các Hội thẩm nhân dân:1.Ông Nguyễn Văn Hạnh

2.Ông Phan Đức Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột: Ông Phạm Trường Xuân- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 443/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 452/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Hoàng Thanh D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Tèo D;Sinh ngày 07 tháng 02 năm 1998; Tại: Đắk Lắk;Nơi cư trú: phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không;

Con ông: Hoàng Minh T, sinh năm: 1962; Con bà: Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm: 1962. Hiện cùng trú tại: phường K, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Gia đình bị cáo có 05 anh, chị, em ruột, bị cáo là con út; Bị cáo chưa có vợ, con;Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Sinh ra và lớn lên tại tỉnh Đắk Lắk, được gia đình nuôi ăn học đến lớp 08/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình.

Ngày 07 tháng 3 năm 2020, có hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 02 tháng 10 năm 2020, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Bắt bị cáo để tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, từ ngày 02 tháng 10 năm 2020 cho đến nay(Có mặt tại phiên tòa).

-Người bị hại:Ông Nguyễn Đức B; sinh năm: 1974(Vắng mặt).

Địa chỉ: phường K, Tp. B, tỉnh Đăk Lăk.

-Người liên quan: Ông Võ Minh V-sinh năm 1992(Vắng mặt).

Địa chỉ: phường K, Tp. B, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07 tháng 3 năm 2020, Hoàng Thanh D một mình đi bộ trên các tuyến đường thuộc phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tìm tài sản của người dân để sơ hở thì lấy trộm. Khi D đến trước một căn nhà (chưa xác định được địa chỉ) phát hiện có 01 đôi dép bánh mì, có in chữ Adidas, đế bằng cao su, quai bằng da, màu đen D lén lút lấy trộm đôi dép trên. Sau đó, D tiếp tục đi và phát hiện cửa phía sau nhà của ông Nguyễn Đức B (sinh năm: 1974 - trú tại: Liên gia 2, tổ dân phố 1, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) chỉ đóng chốt trong, nên D lấy 01 chiếc móc áo bằng kim loại có sẵn tại sân nhà ông B bẻ cong, sử dụng mở chốt cửa bên trong rồi để đôi dép bánh mì màu đen D vừa trộm cắp được cùng đôi dép nhựa màu vàng của D bên ngoài cửa rồi đột nhập vào bên trong nhà ông B. Khi vào phòng ngủ thứ hai bên trái (hướng từ cửa sau lên), D lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu đen, dung lượng 16GB; D tiếp tục đi vào phòng ngủ thứ ba lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10, màu đỏ. Sau khi cất giấu 02 chiếc điện thoại vào người, D sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, số Imei: 351949057321112 của D bật đèn pin lên soi để tiếp tục tìm tài sản trộm cắp, thì bị ông B phát hiện, tri hô, truy đuổi. D bỏ chạy thoát và làm rớt chiếc điện thoại Nokia 1280, màu xanh cùng 02 đôi dép của D. Sau đó, D bỏ trốn vào Thành phố Hồ Chí Minh rồi bán 02 chiếc điện thoại trộm cắp được cho một người đàn ông (chưa xác định nhân thân lai lịch) được 1.500.000 đồng và đã tiêu xài hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 213/KLĐG, ngày 08 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột kết luận: 01 điện thoại Iphone 6 Plus, dung lượng 16Gb, màu đen, trị giá: 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu đỏ, trị giá: 2.100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là: 4.100.000 đồng (Bốn triệu một trăm ngàn đồng).

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS TPBMT ngày 16 tháng 12 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, để xét xử đối với bị cáo Hoàng Thanh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt Hoàng Thanh D từ:06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/10/2020.

*Các biện pháp tư pháp:Căn cứ Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 và Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 585, Điều 589 BLDS.

Buộc Hoàng Thanh D phải bồi thường cho ông Nguyễn Đức B số tiền 4.100.000 đồng là giá trị 02 điện thoại di động D đã trộm cắp.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, số Imei: 351949057321112 gắn kèm 01 sim điện thoại VINAPHONE là tài sản của bị cáo D, sử dụng làm công cụ phạm tội là phù hợp.

Trả lại 01 đôi dép nhựa màu vàng, đã qua sử dụng cho bị cáo Hoàng Thanh D là tài sản của bị cáo không sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản là phù hợp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Hoàng Thanh D không tranh luận gì thêm thừa nhận hành vi phạm tội của mình đã gây ra đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất vì bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột; Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi bị cáo đã thực hiện, phù hợp với toàn bộ vật chứng đã thu được …Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật và cần có tiền tiêu xài cá nhân. Ngày 07 tháng 3 năm 2020, tại phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, Hoàng Thanh D đã trộm cắp 01 điện thoại Iphone 6 Plus, dung lượng 16Gb, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu đỏ của ông Nguyễn Đức B. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là 4.100.000 đồng. Bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”

Hành vi phạm tội của Hoàng Thanh D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, là một trong những quyền về tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; thế nhưng chỉ vì ham lợi bất chính không chịu lao động, không có thu nhập nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của bản thân, mà bị cáo đã không tôn trọng pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác, cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do bị cáo gây ra. Do đó cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Hoàng Thanh D, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h,i,s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Do đó, cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

. Các biện pháp tư pháp:Căn cứ Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 và Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 585, Điều 589 BLDS.

Buộc Hoàng Thanh D phải bồi thường cho ông Nguyễn Đức B số tiền 4.100.000 đồng là giá trị 02 điện thoại di động D đã trộm cắp.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, số Imei: 351949057321112 gắn kèm 01 sim điện thoại VINAPHONE là tài sản của bị cáo D, sử dụng làm công cụ phạm tội.

Trả lại 01 đôi dép nhựa màu vàng, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản.

. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:Hoàng Thanh D: 09(Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/10/2020.

*Các biện pháp tư pháp:Căn cứ Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 và Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc Hoàng Thanh D phải bồi thường cho ông Nguyễn Đức B số tiền 4.100.000 đồng là giá trị 02 điện thoại di động D đã trộm cắp.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, số Imei: 351949057321112 gắn kèm 01 sim điện thoại VINAPHONE là tài sản của bị cáo D, sử dụng làm công cụ phạm tội.

Trả lại 01 đôi dép nhựa màu vàng, đã qua sử dụng cho bị cáo Hoàng Thanh D là tài sản của bị cáo không sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản.

(Đặc điểm như biên bản giao nhận tài sản, tang vật ngày 16/12/2020 giữa Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột với Chi cục thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột).

-Về án phí: Bị cáo Hoàng Thanh D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

-Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ