vanban.org

Bản án 10/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội "Giết người".

Về hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 15 (Mười lăm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, (ngày 02/12/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Dung phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội "Giết người".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HS-ST
Ngày 18-3-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hồng Giang;

Thẩm phán: Bà Trần Thị Nhài;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Thanh Hải;

2. Bà Nguyễn Thị Canh;

3. Bà Hoàng Thị Thúy Vân.

.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2021/TLST-HS ngày 20/01/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HS ngày 03/3/2021 đối với bị cáo: NGUYỄN THỊ D, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1949.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ X, phường TL, thành

phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 0/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; Con ông Nguyễn Văn M1 và bà Trần Thị T1 (đều đã chết); có chồng là Chu Anh M và 02 con (đều đã chết).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại

giam Công an tỉnh Thái Nguyên cho đến nay, (có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị D do Đoàn Luật sư tỉnh Thái

Nguyên cử Luật sư Nguyễn Văn Tiến, Văn phòng Luật sư An Toàn, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

* Bị hại: Chu Anh M, sinh năm 1936, trú tại: Tổ X, phường TL, thành phố

Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, (đã chết).

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại Chu Anh M: Ông Chu Mạnh H5, sinh

năm 1964, trú tại: Tổ 8, khu phố 2, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, là con riêng bị hại, (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trần Thị Thùy L, sinh năm 1991, trú tại: Tổ X, phường TL, thành phố

Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, là con đẻ chị Chu Thị L2, sinh năm 1971, đã chết năm 2005, chị L2 là con đẻ bị hại Chu Anh M, (có mặt).

2. Anh Trần Huy H2 (tên thường gọi C), sinh năm 1993, trú tại: Tổ Y,

phường TTh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, là con đẻ bà Chu Thị L2, sinh năm 1971, đã chết năm 2005, chị L2 là con đẻ bị hại Chu Anh M, (có mặt).

3. Chị Chu Thị Hương L4, sinh năm 1998, trú tại: Tổ Z, phường DTr, thành

phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, là con đẻ của anh Chu Toàn Th1, sinh năm 1975, đã chết năm 2014, anh Th1 là con đẻ bị hại Chu Anh M, (vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. Ông Hồ Ngọc H4, sinh năm 1957, trú tại: Xóm K, xã CV, huyện ĐT, tỉnh

Thái Nguyên, (có mặt).

2. Ông Thái Mạnh H5, sinh năm 1959, trú tại: Tổ L, phường TT, thành phố

Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

3. Anh Trần Mạnh C, sinh năm 1971, (có mặt);

4. Ông Trần Văn V, sinh năm 1958, (có mặt).

Đều trú tại: Tổ X, phường TL, Tp. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 17/6/2020, Nguyễn Thị D ở cùng chồng là Chu Anh M,

sinh năm 1936, trú tại: Tổ X, phường TL, Tp. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Ông M nói người mệt mỏi, nên D lấy dầu gió xoa bóp đầu cho ông M tại giường ngủ của ông M. Trong quá trình xoa bóp dầu, giữa D và ông M xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi, chửi và du đẩy nhau. D đẩy ông M ngã ra giường, đập đầu vào thành giường, vào tường nhà nhiều lần, sau đó D lấy 01 chiếc búa đinh dài tổng thể 33cm, chuôi bằng gỗ dài 29cm, phần đầu búa đinh bằng kim loại kích thước (10x4) cm, có 2 mặt búa KT (3,9x4,1) cm và (4,2x4,1) cm để ở trên nền nhà, cách vị trí giường khoảng 2m, lúc này D đứng cách ông M khoảng 70cm, D dùng tay phải đập phần đầu búa theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái khoảng 2 nhát vào bên trái đầu ông M, làm ông M ngã xuống giường. D lên giường cúi người dùng tay phải cầm búa đập liên tiếp khoảng 4 đến 5 nhát nữa vào đầu ông M theo chiều hướng từ trên xuống dưới, thấy ông M nằm bất động, đầu chảy nhiều máu, D đã lau chùi các dấu vết máu, thay quần, áo cho ông M, thay chiếu, màn, gối dính máu bỏ ra bờ ao ở cạnh nhà, mang chiếc búa ra vòi nước ở sân nhà rửa sạch máu, rồi cất giấu ở ngoài bờ tường rào bên trái nhà. Đến khoảng 03 giờ ngày 18/6/2020, D đi sang nhà anh Trần Mạnh C, sinh năm 1971, là hàng xóm bảo anh C sang xem ông M bị làm sao, anh C đến nhà D sờ vào người ông M và nói là ông M đã chết, anh C bảo D gọi điện thoại thông báo cho con của ông M và mọi người trong gia đình biết, khoảng 10 phút sau một số người nhà của ông M và hàng xóm đến.

Nhận được tin ông M chết, khoảng 10 giờ ngày 18/6/2020, anh Chu Mạnh

H5, sinh năm 1964, là con riêng của ông M, trú tại tổ 8, khu phố 2, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về đến nhà. Anh H5 cùng hai người bạn là ông Hồ Ngọc H4, sinh năm 1957, trú tại: Xóm K, xã CV, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên và ông Thái Mạnh Huỳnh, sinh năm 1959, trú tại: Tổ L, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tắm rửa cho ông M. Trong khi tắm rửa, phát hiện trên người ông M có nhiều vết bầm tím, phía sau đầu có 3 vết rách da, lún xương sọ, chảy máu, chân tay có dấu vết xây xát da và trên tường ở trong nhà có nhiều dấu vết máu, ông H5 và một số người trong gia đình nghi ngờ và gặng hỏi bà D nguyên nhân chết của ông M. Ban đầu, bà D vẫn một mực nói ông M chết là do tự ngã, đến sáng ngày 19/6/2020, bà D mới thừa nhận chính mình đã du đẩy, nhiều lần đập đầu ông M vào thành giường, vào tường nhà khiến ông M tử vong. Ông H5 và gia đình đã không trình báo ngay sự việc với Cơ quan Công an, mà tiếp tục đưa thi thể ông M đi hỏa táng tại nghĩa trang An Lạc Viên, thuộc xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên rồi mang xương, cốt chôn cất tại nghĩa trang RX thuộc tổ L, phường TL, Tp. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đến sáng ngày 20/6/2020, Nguyễn Thị D đến Công an phường Tích Lương,

thành phố Thái Nguyên để trình báo sự việc. Tại đây, D đã lấy 01 con dao nhọn, dạng dao Thái Lan tự cứa vào cổ rồi đâm vào ngực trái của mình gây thương tích cho bản thân. Sau đó, D được đưa đến Bệnh viện Gang Thép, Thái Nguyên để cấp cứu.

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 20/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh

Thái Nguyên đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả xác định:

Hiện trường xẩy ra vụ án là nhà của Nguyễn Thị D, thuộc Tổ X, phường

TL, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên: Phía đông là khu vực đường liên xóm thuộc Tổ X, phường TL, một chiều đi ra đường Quốc lộ 3, một chiều sang tổ 11; Phía tây và nam tiếp giáp với nhà nghỉ CS; phía bắc là khu vực nhà và đất bỏ hoang.

Dạng nhà cấp 4, lợp mái tôn gồm 2 gian, gian phòng khách và gian bếp, nhà

có cửa chính bằng gỗ kính quay hướng đông, có kích thước hai cánh bằng nhau (2,1x0,60).

Trong nhà: Tại tường phía Tây cách tường phía Bắc 1,55m có dấu vết vật

chất màu nâu nghi là máu trong diện (0,56x0,65)m, tại tường phía Đông có bám dính nhiều vật chất màu nâu nghi là máu, chỗ thấp nhất cách nền 0,45m, cao nhất cách nền là 2,18m.

Tại phần màn hình ti vi kê trên bàn gỗ phát hiện dấu vết vật chất màu nâu

nghi là máu dạng tia, bắn. Trên phần tường phía Nam của phòng khách có 01 cửa nhôm kính dạng trượt thông sang phòng bếp, cửa có KT (0,75x1,95)m, tại mặt cửa phía Bắc cách nền 0,8m có hai dấu vết đường vân bám dính vật chất màu nâu nghi là máu. Tại mặt cửa phía nam phát hiện 01 dấu vết đường vân bám dính vật chất màu nâu nghi máu dạng chùi quệt. Cách dấu vết này lên phía trên 11cm phát hiện 01 dấu vết đường vân bám dính vật chất màu nâu nghi máu.

Mở rộng hiện trường: Khu bãi rác cách cổng nhà bà D về hướng Đông Bắc

3,86m phát hiện một số quần, áo, gối bám dính vật chất màu nâu nghi là máu. Tiếp giáp tường rào nhà bà D về hướng Đông Bắc, sát tường rào và trụ cổng của cửa cổng ra vào khu nhà bỏ hoang phát hiện 01 chiếc búa cán gỗ dài 33cm, phần đầu búa bằng kim loại KT (10x4)cm, phần cán gỗ dài 29cm.

Cách tường nhà bà D về hướng Bắc ở phía bên ngoài 2,05m phát hiện nhiều vật

dụng như giường gỗ đã bị tháo dỡ (đây là chiếc giường kê ở góc tường phía Tây Bắc của phòng khách); 01 chiếc chiếu cói KT (1,96x1,55)m. Trên phần đầu giường, thành giường, các thanh kê dát giường phát hiện dấu vết vật chất màu nâu nghi là máu. Trên chiếc chiếu cói phát hiện dấu vết vật chất màu nâu nghi là máu.

Khai quật và khám nghiệm hài cốt hồi 8 giờ 30 phút ngày 22/6/2020 tại nghĩa

trang RX, thuộc tổ L, phường TL, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xác định: Toàn bộ phần hài cốt bị nứt, tách, vỡ vụn thành nhiều mảnh.

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Vùng trán trái, cách trên bờ ổ mắt

1,5cm, sát tường giữa có vết nứt, vỡ xương KT: 7 x (0,2-0,5)cm, trong đó có mảnh bong tách bản ngoài xương sọ KT (1,6x1,5) cm, bờ mép không gọn. Vùng trán trái cách đường giữa 4,5cm, cách bờ trên ổ mắt 1,5cm có diện khuyết xương (5x3) cm, bờ mép không gọn. Nứt tách khớp thái dương đỉnh bên phải. Nứt vỡ xương đỉnh phải từ vị trí thái dương đỉnh lên trên và ra sau KT (4x0,2) cm. Vùng trán, thái dương, đỉnh trái có diện nứt tách, vỡ, khuyết xương KT (12x7)cm; trong đó tại xương đỉnh - thái dương có diện than hóa màu xám đen hình tứ giác KT cạnh trên 4,5cm, cạnh trước 4,2cm bị mất liên tục bởi diện khuyết xương, cạnh dưới 5cm, cạnh sau 5,7 cm, góc giữa cạnh trên và cạnh sau tương đối vuông, ranh giới rõ, góc giữa cạnh trên và cạnh trước tù, ranh giới rõ, góc giữa cạnh trên và cạnh trước tù, ranh giới với các vùng xương xung quanh tương đối rõ, bên trong hộp sọ vùng phía dưới diện xương màu xám đen vùng đỉnh - thái dương trái có bám dính 01 khối tổ chức màu nâu đen KT (5x3x2) cm.

+ Khối xương hàm mặt bị nứt vỡ phức tạp thành nhiều mảnh, toàn bộ hàm

trên và hàm dưới đã được lắp răng giả.

+ Nứt vỡ, bong tách bản ngoài xương đỉnh hai bên trên diện (12x10)cm, từ

diện này có 01 vết nứt vỡ ra phía trước xương trán phải dài 5cm.

+ Nứt vỡ xương đỉnh phải và xương chẩm trên diện (11x4,5)cm.

+ Các xương còn lại bị vỡ vụn thành nhiều mảnh, không còn nguyên hình

thái giải phẫu.

- Tại Kết luận giám định số: 4020/C09-TT1, ngày 11/8/2020 của Viện KH4

học hình sự, Bộ Công an kết luận về nguyên nhân chết đối với ông Chu Anh M:

+ Diện vỡ lún, khuyết xương vùng trán, đỉnh, thái dương trái có đặc điểm,

tính chất phù hợp với tổn thương do tác động cơ học trước chết.

+ Do tử thi đã được hỏa táng chỉ còn lại các xương bị than hóa, nứt tách, vỡ

vụn nên không đủ cơ sở xác định nguyên nhân chết và thời gian chết của ông Chu Anh M.

Tại Kết luận giám định số: 841/KL-KTHS ngày 29/6/2020 của Phòng Kỹ

thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Các dấu vết đường vân phát hiện được trên cánh cửa nhôm kính thông từ phòng khách sang phòng bếp nhà bà Nguyễn Thị D. Ký hiệu từ B1 đến B3 có đặc điểm riêng ít không đủ yếu tố giám định. 01 (một) chiếc búa dài tổng thể 33 cm, phần đầu búa bằng kim loại KT (10x4) cm, cán búa dài 29 cm thu giữ tại vị trí sát tường rào nhà ông M và hướng Đông bắc. Ký hiệu B4 không phát hiện được dấu vết đường vân.

Tại Kết luận giám định số: 4115/C09(TT3), ngày 03/8/2020 của Viện Khoa

học hình sự, Bộ Công an kết luận giám định ADN: Do chất lượng của mẫu ghi xương đỉnh - thái dương trái, thu khi khai quật và khám nghiệm tử thi ông Chu Anh M (ký hiệu A5) kém nên không thu được kiểu (ADN). Mẫu nghi máu thu trên các tường tại phòng khách (ký hiệu A1) và mẫu nghi máu thu trên đèn, vợt muỗi, máy giặt (ký hiệu A2) là máu của một người nam giới, người nam giới này có quan hệ huyết thống cha đẻ, con đẻ với Chu Mạnh H5. Mẫu nghi máu thu trên cánh cửa nhôm kính thông từ phòng khách sang bếp (ký hiệu A3) là máu của Nguyễn Thị D và máu của người nam giới để lại mẫu máu ghi thu trên các tường tại phòng khách (ký hiệu A1) và mẫu máu ghi thu trên đèn, vợt muỗi, máy giặt (ký hiệu A2).

Trên chiếc búa ghi thu tại vị trí sát tường rào nhà ông M về hướng Đông

Bắc (ký hiệu A4) có bám dính máu người và là máu của người nam giới để lại các mẫu máu ghi thu trên các tường tại phòng khách (ký hiệu A1); trên đèn, vợt muỗi, máy giặt (ký hiệu A2); lẫn trong dấu vết máu ghi thu trên cánh cửa nhôm kính thông từ bếp sang phòng khách (ký hiệu A3).

Tại Công văn số: 1622/C09-TT3, ngày 26/8/2020 của Viện Khoa học hình

sự, Bộ Công an giải thích kết luận giám định đối với các dấu vết máu bám dính trên chiếc búa (ký hiệu A4) (kết luận giám định 4115 nêu trên) như sau:

Chiếc búa ghi thu tại sát tường rào nhà ông M về hướng Đông Bắc (ký hiệu

A4) có cán bằng gỗ, đầu búa bằng kim loại đã bị gỉ, phía trên đầu búa có một đoạn cán búa đã bị mẻ. Quá trình giám định, xác định trên đầu búa và cán búa (phần sát đầu búa) rải rác có bám dính máu người. Phân tích ADN từ các dấu vết máu người này chỉ xác định được kiểu gen duy nhất của một người nam giới có quan hệ huyết thống cha đẻ, con đẻ với Chu Mạnh H5. Ngoài ra không phát hiện dấu vết máu của người nào khác trên chiếc búa (ký hiệu A4) gửi giám định.

Tại Kết luận giám định pháp y bổ sung số: 5658/C09-TT1, ngày 25/9/2020

của Viện KH4 học hình sự, Bộ Công an kết luận như sau: Tổn thương vỡ lún, khuyết xương vùng trán, đỉnh, thái dương trái của ông Chu Anh M do vật tày tác động gây nên. Chiếc búa gửi giám định gây được tổn thương vỡ lún, khuyết xương vùng trán, đỉnh, thái dương trái của ông Chu Anh M.

Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS(P2), ngày 19/01/2021 của Viện kiểm sát nhân

dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng

như nội D cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Phần luận tội tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định

truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội "Giết người”.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i

khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 14 năm đến 15 năm tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng

hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng

hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm

sát.

Luật sư bào chữa cho bị cáo xác định việc truy tố đối với bị cáo về tội “Giết

người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh đặc biệt của bị cáo, bị cáo đã trên 70 tuổi, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo nhất trí với nội D bào chữa của Luật sư.

Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được

hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên và người

bào chữa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Luật sư và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của

bị cáo tại Cơ quan điều tra, Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ có sở kết luận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 17/6/2020, do mâu thuẫn bị cáo Nguyễn Thị D có đã có hành vi du đẩy ông Chu Anh M (là chồng) ngã ra giường, đập đầu vào thành giường, vào tường nhà nhiều lần, tại nhà riêng ở Tổ X, phường TL, Tp. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó bị cáo đã lấy 01 chiếc búa đinh dài tổng thể 33cm, chuôi bằng gỗ dài 29cm, phần đầu búa đinh bằng kim loại kích thước (10 x 4)cm, có 2 mặt búa KT (3,9 x 4,1)cm và (4,2 x 4,1)cm để ở nền nhà, cách giường ngủ khoảng 2m đập hai nhát vào đầu ông M, làm ông M ngã xuống giường. Bà D lên giường tiếp tục dùng búa đinh đập liên tiếp khoảng 4 đến 5 nhát nữa vào đầu ông M, dẫn đến ông M tử vong.

Với hành vi nêu trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên

truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Điều luật có nội dung:

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt

tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

n. Có tính chất côn đồ.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến

tính mạng của con người, được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xét thấy, cần phải xử lý nghiêm, buộc bị cáo phải cách ly xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của

bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn, hối cải, bị cáo phạm tội là người đã trên 70 tuổi. Do đó, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”và “Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên”. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú, do vậy bị cáo được hưởng theo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đó là “Phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét theo quy

định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Chu Mạnh H5 là người đại diện hợp pháp cho

gia đình bị hại, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vật chứng vụ án:

- 01 túi niêm phong, bên trong có 01 chiếc tất giấy mầu nâu, phần đầu mũi tất

bám dính dấu vết vật chất mầu nâu nghi máu phát hiện tại nắp máy giặt ở trong bếp nhà ông Chu Anh M; 01 áo sơ mi dài tay mầu xám; 01 túi niêm phong bên trong có 01 quần dài mầu đen (Phát hiện thu giữ tại bãi rác, cách cổng nhà ông Chu Anh M 3,86m về phía bên trái).

- 01 túi niêm phong bên trong có 01 vỏ gối có nhiều hoa văn và mầu sắc khác

nhau; 01 túi niêm phong bên trong có 01 phần vải của chiếc màn tuyn mầu trắng; 01 phần của chiếc chiếu cói; 01 quần đùi mầu xanh; 01 vỏ bao tải dứa mầu vàng (Phát hiện thu giữ tại khu vực nhà bỏ hoang; phía bên trái, cạnh nhà ông Chu Anh M).

- 01 túi niêm phòng ký hiệu NS1A, mã số 070486 đựng các mẫu vật còn lại sau

giám định theo Kết luận giám định số: 4115/C09-TT3 ngày 03/8/2020 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an (tổng số 06 mẫu vật) gồm, các bì (niêm phong ban đầu đã được mở, đựng mẫu vật còn lại), có ký hiệu A1, A2, A3, A5, M1, M2.

- 01 hộp niêm phong, bên ngoài có họ tên, chữ ký giáp lai của Phạm Văn

Khang, Trần Văn Đê và hình dấu của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an. Bên trong đựng chiếc búa đinh là mẫu vật được hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định bổ sung số: 5658/C09-TT1, ngày 25/9/2020 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an.

- 01 túi niêm phong ký hiệu NS1A, mã số 070457 đựng quần vải mầu đen của

Nguyễn Thị D do anh Trần Huy H2 giao nộp tại Bệnh viện Giang Thép, Thái Nguyên. Tất cả số vật chứng trên không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

- 01 bì niêm phong thẻ nhớ mầu đen, nhãn hiệu Micro SD, loại 2G, đã qua sử

dụng bên trong có File ghi âm do chị Đinh Thị Hồng giao nộp, được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia 230, màu tím than đã qua sử dụng, do ông

Chu Mạnh H5 giao nộp, xác định của bị cáo không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Neoson, mầu vàng đen và 01 điện thoại

Masstel mầu đỏ, đen phát hiện trên tủ gỗ tại phòng khách trong nhà bị cáo. Xác định 02 chiếc điện thoại trên của bị hại, không liên quan đến vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Chu Mạnh H5 đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho ông sử dụng, xét thấy cần trả lại cho ông H5.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp

luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội "Giết người".

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, o khoản 1, khoản

2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 15 (Mười lăm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, (ngày 02/12/2020).

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45

(Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng

hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy gồm:

+ 01 túi niêm phong, bên trong có 01 chiếc tất giấy mầu nâu, phần đầu mũi tất

bám dính dấu vết vật chất mầu nâu nghi máu phát hiện tại nắp máy giặt ở trong bếp nhà ông Chu Anh M;

+ 01 áo sơ mi dài tay mầu xám;

+ 01 túi niêm phong bên trong có 01 quần dài mầu đen;

+ 01 túi niêm phong bên trong có 01 vỏ gối có nhiều H4 văn và mầu sắc khác

nhau;

+ 01 túi niêm phong bên trong có 01 phần vải của chiếc màn tuyn mầu trắng; 01

phần của chiếc chiếu cói; 01 quần đùi mầu xanh; 01 vỏ bao tải dứa mầu vàng.

+ 01 túi niêm phòng ký hiệu NS1A, mã số 070486 đựng các mẫu vật còn lại

sau giám định theo Kết luận giám định số: 4115/C09-TT3 ngày 03/8/2020 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an (tổng số 06 mẫu vật) gồm các bì (niêm phong ban đầu đã được mở, đựng mẫu vật còn lại) có ký hiệu A1, A2, A3, A5, M1, M2.

+ 01 hộp niêm phong, bên ngoài có họ tên, chữ ký giáp lai của Phạm Văn

Khang, Trần Văn Đê và hình dấu của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an. Bên trong đựng chiếc búa đinh là mẫu vật được hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định bổ sung số: 5658/C09-TT1, ngày 25/9/2020 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an;

+ 01 túi niêm phong ký hiệu NS1A, mã số 070457 đựng quần vải mầu đen

của Nguyễn Thị D do anh Trần Huy H2 giao nộp tại Bệnh viện Giang Thép, Thái Nguyên.

- Trả lại 01 chiếc điện thoại Nokia 230, màu tím than đã qua sử dụng cho bị

cáo Nguyễn Thị D.

- Trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Neoson mầu vàng đen và 01 điện thoại

Masstel mầu đỏ, đen cho ông Chu Mạnh H5.

- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 bì niêm phong thẻ nhớ mầu đen, nhãn hiệu

Micro SD, loại 2G, đã qua sử dụng bên trong có File ghi âm do chị Đinh Thị Hồng giao nộp.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan

Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên ngày 19/01/2021).

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 và Điều 337 Bộ

luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Chu Thị Hương L4), báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hình sự sơ thẩm hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ