vanban.org

Bản án 10/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Tiến Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Dương Tiến Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2020. Buộc bị cáo Dương Tiến Q chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tiến Quốc - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Tiến Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH A GIAG
Bản án số: 10/2021/HS-ST
Ngày: 02/3/2021.

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH A GIAG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn H.

2. Ông Trần Đức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Q Thắng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:

Dương Tiến Q, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Số 50/70/47 khóm Nguyễn Du, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh A GiAg; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; Q tịch: Việt Nam; con ông Dương Kim D, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; bị cáo có hai Ah chị em, bị cáo là người thứ nhất; bị cáo chưa có vợ.

Tiền án; tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2020 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ah Lê Q M, sinh năm 1997. Nơi cư trú: ấp Vĩnh A, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh A GiAg (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA:

1/ Ah Nguyễn ThAh H, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Số 39/15 khóm Tân Thạnh, phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh A GiAg (có mặt).

2/ Ông Lê ThAh H, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp ThAh Niên, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh A GiAg (vắng mặt).

3/ Ông Dương Kim D, sinh năm 1981. Nơi cư trú: khóm Mỹ Thới, phường Mỹ Quí, thành phố Long Xuyên, tỉnh A GiAg (vắng mặt).

Người làm chứng:

1/ Ah Phạm Tấn A, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Số 70/27B khóm Bình Long 3, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh A GiAg (vắng mặt).

2/ Ah Nguyễn M Nh, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Số 23/5A khóm Nguyễn Du, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh A GiAg (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Dương Tiến Q làm công nhân Công ty Cổ phần TBS A GiAg thuộc ấp ThAh Niên, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh A GiAg. Khoảng 16 giờ ngày 21/8/2020, Q ra bãi giữ xe của Công ty định lấy xe ra về nhìn thấy xe mô tô biển số 67B2-343.66, nhãn hiệu Honda, loại Sonic của Nguyễn ThAh H dựng gần xe của Q nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Q sử dụng phiếu giữ xe trong Công ty nhặt được trước đó, dùng phấn ghi lại số phiếu giữ xe lên yên xe 67B2-343.66, sau đó Q câu dây điện trực tiếp nổ máy xe chạy ra cổng gác đưa phiếu giữ xe nhặt được cho Lê Q M (nhân viên bảo vệ) rồi chạy đến quán Phố Cổ gần Công ty gửi xe. Đến khoảng 17 giờ Q đến quán Phố Cổ lấy xe 67B2-343.66 điều khiển về nhà Phạm Tấn A (bạn của Q) tại phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tháo biển số, gương chiếu hậu cất giấu. Tiếp đó, Q nhờ A đưa Q vào Công ty lấy xe mô tô 67AA-094.64 của Q điều khiển quay về nhà của A đổi xe mô tô 67B2-343.66 và đem đến nhà Nguyễn M Nh (bạn cùng xóm Q) tại khóm Nguyễn Du, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên gửi nhờ nhưng không cho, vì Nh biết tài sản Q lấy trộm.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/8/2020, Ah H phát hiện xe mô tô bị mất nên báo quản lý Công ty kiểm tra phiếu gửi xe mô tô và nghi ngờ Q lấy trộm nên đến Công A thị trấn Phú Hòa trình báo.

Ngày 22/8/2020, Công A huyện Thoại Sơn mời Q làm việc thì Q khai nhận đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản, đồng thời giao nộp xe mô tô biển số 67B2-343.66 cho Công A.

Vật chứng thu giữ: Xe mô tô hiệu Honda, loại Sonic, số khung 1116JK187048, số máy KB11B1187228; tấm kim loại màu trắng kích thước (19.5 x 05) cm; gương chiếu hậu bên trái màu đen.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 134/KL-HĐ ngày 28/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thoại Sơn, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda, loại Sonic, số khung 1116JK187048, số máy KB11B1187228, trị giá 52.800.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSTS ngày 16/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh A GiAg đã truy tố bị cáo Dương Tiến Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo ăn năn, hổi cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Ah Lê Q M trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Hiện tại tài sản đã trao trả cho chủ sở hữu và Ah H được ông D bồi thường chi phí sữa xe 1.621.000 đồng nên Ah H không yêu cầu bồi thường thêm. Ah M cũng không yêu cầu bồi thường gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Dương Tiến Q mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đề cập xem xét.

Về phần vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quA Cảnh sát điều tra - Công A huyện Thoại Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án này còn có người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy; sau khi vụ án xảy ra, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Dương Tiến Q: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, nó hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA, người làm chứng, các biên bản hoạt động tố tụng. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đầy đủ căn cứ xác định: Vào ngày 21/8/2020, do muốn có xe gắn máy để sử dụng mà không pH bỏ tiền ra mua nên Dương Tiến Q lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 67B2-343.66 của Ah Nguyễn ThAh H gửi tại Công ty Cổ phần TBS A GiAg do Ah Lê Q M đAg quản lý. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 52.800.000 đồng. Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo về tội dAh, Điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Xét thấy, bị cáo Dương Tiến Q là người đã trưởng thành, có sức khỏe nhưng không chịu lo lao động để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình và xã hội, ngược lại vì tham lam tư lợi, muốn có tài sản sử dụng mà không pH lao động vất vả nên dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Bị cáo biết trộm cắp tài sản người khác là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện; điều này thể hiện bị cáo là người xem thường pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị A tại địa phương, gây tâm lý bất A trong quần chúng nhân dân vì pH thường xuyên đề cao cảnh giác. Vì vậy cần pH xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình, có xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thật thà khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, sau khi vụ án xảy ra, bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quA điều tra đã thu giữ được: 01 xe mô tô hiệu hon da, loại Sonic, số khung 1116JK187048, số máy KB11B1187228, vật chứng này đã trao trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Đối với Phạm Tấn A, Nguyễn M Nh cho Q gửi nhờ xe mô tô 67B2-343.66, nhưng không biết xe mô tô do Q lấy trộm mà có nên Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện Thoại Sơn không truy cứu trách nhiệm hình sự những người này về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

Bị cáo Dương Tiến Q pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Dương Tiến Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Dương Tiến Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2020.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy bA Thường vụ Q hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo Dương Tiến Q chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA có quyền kháng cáo

trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án, riêng bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ