vanban.org

Bản án 10/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 11/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô không biển số, loại xe City màu đỏ, số máy CT100E1636077. Tịch thu tiêu hủy 1360 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 760 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero; 300 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Nelson; 300 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet; 02 giỏ xách sọc car… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Thị Thủy E - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và các điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 10/2021/HS-ST
Ngày: 11- 3- 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Minh.

Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hùng Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Võ Thị Thủy E, sinh năm 1975 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Khóm T, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Đ, sinh năm 1943 (đã chết) và bà Đỗ Thị X, sinh năm 1947; có chồng và 02 con;

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 lần về hành vi Vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54/QĐ-XPVPHC ngày 20/01/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, với mức phạt tiền là 70.000.000 đồng đến nay chưa nộp phạt.

Hiện bị cáo đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 01 ngày 10/12/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Bình.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 20-9-2020, có một thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ gọi vào số điện thoại của bị cáo Thủy E thuê vận chuyển 1360 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 760 bao nhãn hiệu Hero, 300 bao nhãn hiệu Nelson, 300 bao nhãn hiệu Jet, với tiền công là 300.000 đồng. Địa điểm nhận thuốc tại gầm C thuộc xã Y, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, giao thuốc xong nhận tiền công tại khu vực Bến phà thuộc Phường Z, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, bị cáo Thủy E điều khiển xe mô tô không biển số, loại xe City màu đỏ, nhãn hiệu Daelim treo phía sau 02 giỏ xách sọc caro màu xanh, đỏ, vàng, trắng đi đến điểm hẹn để lấy thuốc lá được để sẵn trong 04 bọc nylon màu xanh, 01 bọc nylon màu trắng, 01 bao da rắn màu trắng, 02 bao da rắn màu vàng. Bị cáo Thủy E cho tất cả vào 02 giỏ xách sọc caro treo phía sau xe mô tô rồi điều khiển xe đi thành phố L. Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày đến địa phận ấp G, xã P, huyện B thì bị Công an huyện B phối hợp với Công an xã P kiểm tra phát hiện bắt quả tang nên tiến hành lập biên bản, tạm giữ tang vật, phương tiện theo quy định. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu.

Vật chứng tạm giữ gồm:

- 01 xe mô tô không biển số, loại xe City màu đỏ, số máy CT100E1636077 (xe đã qua sử dụng), bị cáo Thủy E khai mua ở tiệm ve chai. Quá trình tra cứu thông tin tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Tháp không tìm thấy dữ liệu trong hệ thống quản lý, không xác định rõ nguồn gốc.

- 02 giỏ xách sọc caro màu xanh, đỏ, vàng, trắng (đã qua sử dụng).

- 04 bọc nylon đã màu xanh (đã qua sử dụng).

- 01 bọc ny lon màu trắng đã qua sử dụng (đã qua sử dụng).

- 01 bao da rắn màu trắng có dòng chữ URÊ nguyên liệu nguyên liệu (đã qua sử dụng).

- 02 bao da rắn màu vàng có dòng chữ UREA (đã qua sử dụng).

- 760 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero.

- 300 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Nelson.

- 300 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet.

- 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Itel, màu đen đã qua sử dụng do bị cáo giao nộp, qua kiểm tra không có dữ liệu nhật ký cuộc gọi, ngày 08/01/2021 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 08/CT- VKS-TB ngày 08- 02- 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Võ Thị Thủy E về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Võ Thị Thủy E thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.

Tại phần luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Thị Thủy E về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về tình tiết tăng nặng, không có. Về tình tiết giảm nhẹ, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng quy định tại các điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) do bị cáo Thủy E thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ: 06 đến 09 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Kiểm sát viên đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.

Về xử lý vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô không biển số, loại xe City màu đỏ, số máy CT100E1636007 do là phương tiện dùng vào việc phạm tội; đề nghị tịch thu tiêu hủy 1360 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 760 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero; 300 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Nelson; 300 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet; 02 giỏ xách sọc caro màu xanh, đỏ, vàng, trắng; 04 bọc nylon màu xanh; 01 bọc nylon màu trắng; 01 bao da rắn màu trắng có dòng chữ URÊ nguyên liệu; 02 bao da rắn màu vàng có dòng chữ UREA.

Tại phần tranh luận và nói lời sau cùng, bị cáo Võ Thị Thủy E xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo nuôi hai con ăn học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều

tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực

hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình

sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại

về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 20/9/2020, bị cáo Võ Thị Thủy E điều khiển xe

mô tô không biển kiểm soát đến địa phận ấp G, xã P, huyện B thì bị Công an

huyện B phối hợp với Công an xã P kiểm tra phát hiện, bắt quả tang đang vận

chuyển 1360 bao thuốc lá điếu nhập lậu nên tiến hành lập biên bản, tạm giữ

tang vật, phương tiện. Bị cáo Thủy E khai nhận chở thuê số thuốc lá trên cho

một người không biết họ tên, địa chỉ nhằm mục đích nhận số tiền chở thuê là

300.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Trước đó, vào ngày 20/01/2020, bị cáo đã

bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 70.000.000 đồng, đến nay chưa nộp

phạt cũng vì hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu. Như

vậy, đã có đủ chứng cứ để kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội vận chuyển

hàng cấm theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

[3]Tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các

trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232,

234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật

này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ

06 tháng đến 03 năm:

a) ....

e) Hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc một trong các Điều 188, 189, 190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn phạm tội.

Đối với Thuốc lá điếu nhập lậu là hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh, bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật, nhưng vì ham lợi, muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã có hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của

Nhà nước, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh kinh tế tại địa phương.

[5] Nhân thân của bị cáo: Ngày 20/01/2020, bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban

nhân dân tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành

vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền là 70.000.000

đồng, đến nay chưa nộp phạt.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02

(hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai

báo và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng

được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo

không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và

các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy khi

lượng hình cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và có mức

phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo để thể hiện tính nghiêm

minh, nhân đạo của pháp luật, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người công dân

tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng giáo dục, răn đe, phòng

ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[8] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ và lời

khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn,

bị cáo không sở hữu tài sản có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng

hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Bị cáo khai nhận số lượng thuốc lá điếu nhập lậu trên vận chuyển

thuê cho một người nam nhưng không biết cụ thể họ tên, địa chỉ của người

này và việc giao dịch vận chuyển thuê không người chứng kiến, không có căn

cứ và chưa làm việc được nên không đề cập giải quyết, khi nào làm việc được

có căn cứ sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[10] Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Itel, màu đen đã qua sử

dụng do bị cáo giao nộp, qua kiểm tra không có dữ liệu nhật ký cuộc gọi,

ngày 08/01/2021 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy

định pháp luật. Riêng số tiền bị cáo giao dịch vận chuyển thuê là 300.000

đồng nhưng chưa nhận nên không buộc bị cáo phải nộp ngân sách Nhà nước,

nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[11] Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe

mô tô không biển số, loại xe City màu đỏ, số máy CT100E1636077 do là

phương tiện dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 1360 bao thuốc lá điếu

nhập lậu gồm: 760 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero; 300 bao thuốc lá điếu,

nhãn hiệu Nelson; 300 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet; 02 giỏ xách sọc caro

màu xanh, đỏ, vàng, trắng; 04 bọc nylon màu xanh; 01 bọc ny lon màu trắng;

01 bao da rắn màu trắng có dòng chữ URÊ nguyên liệu; 02 bao da rắn màu

vàng có dòng chữ UREA.

[12] Bị cáo Võ Thị Thủy E phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

[16] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng quy định

pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Võ Thị Thủy E phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Võ Thị Thủy E 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô không biển số, loại xe City màu đỏ, số máy CT100E1636077.

Tịch thu tiêu hủy 1360 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 760 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero; 300 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Nelson; 300 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet; 02 giỏ xách sọc caro màu xanh, đỏ, vàng, trắng; 04 bọc nylon màu xanh; 01 bọc ny lon màu trắng; 01 bao da rắn màu trắng có dòng chữ URÊ nguyên liệu; 02 bao da rắn màu vàng có dòng chữ UREA.

(Các vật chứng nêu trên hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22- 02- 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Thị Thủy E phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11- 3- 2021).

Cỡ chữ