vanban.org

Bản án 10/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Hưng, tỉnh Long An Tuyên án 05/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ming Đ, 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, ngày 01 tháng 02 năm 2021. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bồ sung năm 2017) Cơ quan điều tra đã xử lý đúng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Đ phạm tôi trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HS-ST.
Ngày: 05/7/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Thành.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Châu Vũ Hùng.

2. Ông Phạm Ngọc Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Năng Hiển, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long an.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Trường – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2021/TLST-HS, ngày 27/5/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HS ngày 21/6/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2002, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái S, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 29/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2021 đến nay (Bị cáo có mặt).

Bị hại:

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964 (Có mặt).

Nơi cư trú: Khu phố R, thị trấn T, huyện T, Long An.

- Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã TP, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp.

- Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp R, xã V, huyện T, tỉnh Long An.

- Ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp R, xã V, huyện T, tỉnh Long An.

- Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp VC, xã V, huyện T, tỉnh Long An.

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1997 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp HV, xã TP, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp.

- Ông Ngô Thành Vũ L, sinh năm 2002 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp BM, xã TH, thị xã KT, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Thành L, sinh ngày: 20/4/2007 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố RA, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp cho anh L: Ông Lê Văn L, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Khu phố RA, thị trấn T, huyện T, Long An. Là cha ruột của anh Lợi (Vắng mặt).

- Anh Hà Văn K, sinh ngày: 17/8/2004 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố R, thị trấn T, huyện T, Long An.

Người đại diện hợp pháp cho anh K: Bà Hà Thị T; Nơi cư trú: Khu phố R, thị trấn T, huyện T, Long An.Là chị ruột của anh Lợi (Vắng mặt).

- Ông Lê Sĩ H, sinh năm 1975 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 7, xã NT, huyện TT, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 01/12/2020, Nguyễn Trung T, sinh ngày: 18/3/2004 rủ anh ruột là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 15/02/2002 và Lê Thành L, sinh ngày 20/04/2007, cùng nhau đi xuống địa bàn xã V, huyện T để lấy trộm xe mô-tô hiệu SIRIUS của người dân ở cặp đường tỉnh 837B mà T đã để ý trước đó. Đ và L đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Minh Đ điều khiển xe mô-tô nhãn hiệu XINHA màu đỏ, biển kiểm soát số 66H7-3262, chở theo phía sau Nguyễn Trung T, còn Lê Thành L điều khiển xe mô-tô hiệu SKWASAKKI, loại 50cc, cùng đi đến địa bàn xã V, huyện T để lấy trộm xe. Khi đến xã V B thì Lê Thành L điều khiển xe SKWASAKKI quay về nhà, còn Đ và T tiếp tục điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Trọng N, sinh năm: 1988, thuộc ấp VC, xã V, huyện T, khi phát hiện xe mô-tô hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu xanh đen, biển kiểm soát số 66M1-24603 đang đậu ở trước cửa nhà anh N. T bảo Đ dừng xe lại rồi đi vào trong sân nhà dẫn xe ra ngoài và ngồi lên xe để Đ điều khiển xe mô-tô hiệu XINHA đẩy T ngồi trên xe mô-tô hiệu SIRIUS vừa lấy trộm được, đến một quán nước đã đóng cửa và ngủ. Đến sáng ngày 02/12/2020, Đ và T về thị trấn T, huyện T làm chìa khoá xe mô-tô hiệu SIRIUS, rồi điều khiển xe về nhà ở ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An. Chiều ngày 02/12/2020, Đ điều khiển xe mô-tô hiệu XINHA, còn T điểu khiển xe mô-tô hiệu YAMAHA, loại SIRIUS đã lấy trộm đến thị trấn T, huyện T thì bị bắt giữ.

Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Tân Hưng có kết luận định giá tài sản số: 19/KL-ĐGTS, kết luận: giá trị của xe mô-tô hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu đen, biển số 66M1-24603, số khung RLCS5C6HOFI142505, số máy 5C6H-142509 có giá trị 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Ngoài ra, Đ và T còn khai nhận đã thực hiện các lần lấy trộm xe mô-tô trên địa bàn huyện T, tỉnh Long An; huyện TN và huyện TH của tỉnh Đồng Tháp; thị xã KT, tỉnh Long An, cụ thể như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 22/11/2020, Nguyễn Trung T và Nguyễn Minh Đ đi chơi ở thị trấn T về đến đường đá xanh cặp kênh 79 thuộc khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, phát hiện một chiếc xe mô tô nhãn hiệu ELGO, số loại C110, màu xanh, biển số 63B9-86895 của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1964, đậu ở cặp mé đường. Đ và T lấy trộm xe trên về nhà cất giấu. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu ELGO, số loại C110, màu xanh, biển số 63B9-86895 trị giá 700.000 đồng.

Vào đêm 25, rạng sáng 26/11/2020, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh Đ và Lê Thành L, sinh ngày 20/4/2007, đến quán cà phê-bida Bảo Trân ở ấp BM, xã TH, thị xã KT, tỉnh Long An. Đ và L đứng ở ngoài còn T vào quán Bida lấy trộm một xe máy nhãn hiệu KWASAKKI (Loại xe Wave Trung Quốc) màu đỏ đen (Xe không gắn biển số) của anh Ngô Thành Vũ L, sinh năm 2002, cư trú tại ấp BM, xã TH, thị xã KT, tỉnh Long An, đậu ở trong quán Bida gần giường ngủ của anh L. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ chiếc xe trên đồng thời đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã KT, tỉnh Long An để phối họp điều tra. Hội đồng định giá xác định xe máy nhãn hiệu KWASAKKI (Loại xe Wave Trung Quốc) màu đỏ đen (Xe không gắn biển số) trị giá 500.000 đồng.

Vào đêm 26/11/2020 Nguyên Trung T và Nguyễn Minh Đ đến xã TP, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp lấy trộm một chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONCIN (loại xe Dreame Trung Quốc), biển số 67H2-8481 của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1997, cư trú tại ấp HV, xã TP, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ chiếc xe trên đồng thời đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TH, tỉnh Đồng Tháp để xử lý, nhưng cơ quan điều tra huyện TH, tỉnh đồng Tháp có công văn giao cho cơ quan điều tra huyện T xử lý. Hội đồng định giá tài sản là 1.000.000 đồng.

Vào đêm 28, sáng 29/11/2020 Nguyên Trung T và Nguyễn Minh Đ đến ấp 1, xã HB, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp lấy trộm một xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade màu đỏ-đen, biển số 66K1-25682 của anh Huỳnh Thanh H, sinh năm 1986, cư trú ấp TH, xã TP, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi lấy trộm chiếc xe trên thì T và Đ đẩy xe đến đường bê-tông cặp trạm y tế xã HB để bứt dây mát của xe để nổ máy thì gặp lực lượng Công an xã HB đi tuần tra nên T và Đ đã bỏ lại chiếc xe trên để lẫn trốn.

Ngày 02/3/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện TN, tỉnh Đồng Tháp có kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐGTS, kết luận: giá trị của xe mô-tô hiệu HONDA, loại BLADE màu sơn đỏ- đen, BKS 66K1-256.82 mà Đ và T đã lấy trộm có gái trị 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Cơ quan điều tra quyết định nhập vụ án.

Vào đêm 30/11/2020, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh Đ, Lê Thành L và Hà Văn K, tìm tài sản để lấy trộm. Đ và K đứng ở ngoài còn T đi vào nhà anh Trần Văn Đ, sinh năm 1976, cư trú tại ấp R, xã V, huyện T, tỉnh Long An lấy trộm một điện thoại di động Nokia 105 màu đen của anh Đ đặt trên bàn trong nhà, còn L đi vào hông nhà anh Đ lấy trộm một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu XINHA màu đỏ, biển số: 66H7-3263 của anh Đ. Sau đó cả bốn đối tượng tiếp tục đi đến nhà của anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1970, ngụ cùng ấp, lấy trộm một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SINUDA, màu đỏ đen, biển số 66H7-6121 của anh U rồi cả nhóm điều khiển hai xe vừa lấy trộm được về nhà Nguyễn Trung T và Nguyễn Minh Đ cất giấu. Ngày 01/12/2020 T, Đ, K và L mang chiếc xe 66H7-6121 của anh U đến tiệm ve chai của anh Lê Sỹ H, sinh năm 1975, cư trú Ấp 7, xã NT, huyện TT, tỉnh Long An, bán cho anh H được số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau khi bán xe thì T được chia 250.000đ; L được chia 250.000đ. Đ được chia l00.000đ; K được chia l00.000đ, số tiền còn lại đổ xăng và ăn uống hết. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu XINHA màu đỏ, biển số: 66H7-3263 có trị giá 700.000 đồng; xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SINUDA, màu đỏ đen, biển số 66H7-6121 có giá trị 600.000 đồng; Điện thoại di động hiệu Nokia 105 giá trị 200.000 đồng.

Cơ quan điều tra Công an huyện T quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can tiến hành điều tra.

Trong quá trình điều tra, bị can Nguyễn Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; lời khai của bị hại; lời khai của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của bị can Nguyễn Trung T. Bị can Nguyễn Minh Đ phạm tội 02 lần trở lên.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T quyết định thu hồi vật chứng và giao trả lại đồ vật cho các bị hại gồm:

- 01 xe mô-tô hiệu YAMAHA, số loại Sirius màu đen-xanh, biển số: 66M1-246.03, đã qua sử dụng giao trả cho ông Nguyễn Văn N.

- 01 xe mô-tô hiệu ELGO, số loại C110, màu xanh, biển số: 63B9-86895, số khung HMME8A107625, số máy 52FMHC107625 giao trả cho ông Nguyễn Văn L.

- 01 xe mô-tô hiệu SINUDA, dung tích 107, loại xe nữ, màu sơn đỏ đen, biển số đăng ký 66H7-6121 đã qua sử dụng, số khung 61014817, số máy FMH-A014817. Giao trả cho ông Nguyễn Văn U.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen giao trả cho ông Trần Văn Đ.

- 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn U.

- 01 giấy phép láy xe tên Nguyễn Văn U.

- 01 thẻ đảng viên tên Nguyễn Văn U.

- 01 bảo hiểm y tế tên Nguyễn Văn U.

- 01 giấy đăng ký xe tên Nguyễn Văn U.

- 01 xe mô-tô hiệu XINHA, màu đỏ, biển số đăng ký 66H7-3263 đã qua sử dụng, số khung: 5H-037858, số máy: 00037858 giao trả cho ông Nguyễn Văn U.

- 01 xe mô-tô biển số 66K1-256.82, nhãn hiệu HONDA, loại xe BLADE, màu đỏ đen, số máy JA36E0428627, số khung 364XGY013654 (đã qua sử dụng) giao trả cho ông Huỳnh Thanh H.

- 01 chiếc xe SWASAKKI, loại cúp 50 cho ông Ngô Thành Vũ L.

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKS-TH ngày 26 tháng 5 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh Đ thừa nhận hành vi phạm tội đúng với nội dung bản cáo trạng và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng và các biên bản nghiệp vụ của Cơ quan Điều tra huyện.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại giai đoạn tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng đã công bố luận tội viện dẫn giữ quan điểm theo cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ. Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nhân thân bị cáo: Ngày 29/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, như vậy cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, bị can Nguyễn Minh Đ có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội từ 02 lần trở lên theo quy định tại theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) do bị cáo trộm chiếc xe YAMAHA, xe BLADE giá trị mỗi chiếc xe trên định lượng theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Mức án, áp dụng: Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 01/02/2021. Căn cứ khoản 1, Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Kiểm sát viên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo chưa có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn L trình bày trong quá trình sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu ELGO, số loại CHO, màu xanh, biển số 63B9-86895, bị cáo làm hư hỏng xe của ông L, ông L sửa chữa xe hết số tiền 1.910.000 đồng. Nay ông L yêu cầu bị cáo Đ bồi thường số tiền 1.000.000 đông. Bị cáo Đ đồng ý bồi thường chi phí sửa chữa là 1.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Long An đã trả lại cho chủ sở hữu như sau: 01 xe mô-tô hiệu YAMAHA, số loại Sirius màu đen-xanh, biển số: 66M1-246.03, đã qua sử dụng; 01 xe mô-tô hiệu ELGO, số loại C110, màu xanh, biển số: 63B9-86895, số khung HMME8A107625, số máy 52FMHC107625; 01 xe mô-tô hiệu SINUDA, dung tích 107, loại xe nữ, màu sơn đỏ đen, biển số đăng ký 66H7-6121 đã qua sử dụng, số khung 61014817, số máy FMH-A014817; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn U; 01 giấy phép láy xe tên Nguyễn Văn U; 01 thẻ đảng viên tên Nguyễn Văn U; 01 bảo hiểm y tế tên Nguyễn Văn U; 01 giấy đăng ký xe tên Nguyễn Văn U; 01 xe mô-tô hiệu XINHA, loại xe nữ, biển số đăng ký 66H7-3263 đã qua sử dụng, số khung: 5H-037858, số máy: 00037858; 01 xe mô-tô biển số 66K1-256.82, nhãn hiệu HONDA, loại xe BLADE, màu đỏ đen, số máy JA36E0428627, số khung 364XGY013654 (đã qua sử dụng); 01 xe máy nhãn hiệu KWASAKKI (Loại xe Wave Trung Quốc) màu đỏ đen, số máy FMB-00012653, số khung: AMN9H-012653. Xét thấy, việc trao trả này là hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với số đồ vật do Nguyễn Minh Đ giao nộp gồm: 01 cờ lê vòng miệng bằng kim loại đã bị rỉ sét nhãn hiệu DIAMOND CHINA (loại cờ lê 17); 01 cờ lê vòng miệng bằng kim loại đã bị rỉ sét nhãn hiệu DIAMOND CHINA (loại cờ lê 14); 01 kìm bấm chết 10” CRIP bằng kim loại màu trắng nhãn hiệu ALGO Japan. Đây là số dụng cụ, đồ vật mà bị can Nguyễn Minh Đ dùng để trộm cắp tài sản nên cần phải tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu LONCIN (loại xe Dreame Trung Quốc), biển số 67H2-8481, số máy: LC150FMG 016000752, số khung: PR10001600725, là tài sản mà Đ và T đã lấy trộm của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1997, nên đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho anh L.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước.

Bị cáo thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 30 tháng 11 năm 2000 là người trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi mà mình thực hiện là hành vi trái pháp luật:

Vào ngày 01/12/2020, Nguyễn Minh Đ, cùng với Nguyễn Trung T và Lê Thành L, đến địa bàn xã V, huyện T để lấy trộm xe mô-tô hiệu SIRIUS của người dân ở cặp đường tỉnh lộ 837 B mà T đã để ý trước đó. Đ và L đồng ý đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Minh Đ điều khiển xe mô-tô nhãn hiệu XINHA màu đỏ, biển kiểm soát số 66H7-3262, chở theo phía sau Nguyễn Trung T, còn Lê Thành L điều khiển xe mô-tô hiệu KWASAKI, loại 50cc, cùng đi đến địa bàn xã V, huyện T để lấy trộm xe. Khi đến xã V B thì Lê Thành L điều khiển xe KWASAKI quay về nhà, còn Đ và T tiếp tục điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Trọng N, sinh năm: 1988, thuộc ấp VC, xã V, huyện T, khi phát hiện xe mô-tô hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu xanh đen, biển kiểm soát số 66M1-24603 đang đậu ở trước cửa nhà anh N. T bảo Đ dừng xe lại rồi đi vào trong sân nhà dẫn xe ra ngoài và ngồi lên xe để Đ điều khiển xe mô-tô hiệu XINHA đẩy T ngồi trên xe mô-tô hiệu SIRIUS vừa lấy trộm được, đến một quán nước đã đóng cửa và ngủ. Đến sáng ngày 02/12/2020, Đ và T về thị trấn T, huyện T làm chìa khoá xe mô-tô hiệu SIRIUS, rồi điều khiển xe về nhà ở ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An. Chiều ngày 02/12/2020, Đ điều khiển xe mô-tô hiệu XINHA, còn T điểu khiển xe mô-tô hiệu YAMAHA, loại SIRIUS đã lấy trộm đến thị trấn T, huyện T. Sau khi nhận được tin báo thì bị phát hiện Đ, T, L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên.

Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện T có kết luận định giá tài sản số: 19/KL-ĐGTS, kết luận: giá trị của xe mô-tô hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu đen, biển số 66M1-24603, số khung RLCS5C6HOFI142505, số máy 5C6H-142509 có giá trị 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Vào khoảng 22 giờ ngày 22/11/2020, Nguyễn Trung T và Nguyễn Minh Đ đi chơi ở thị trấn T về đến đường đá xanh cặp kênh 79 thuộc khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, phát hiện một chiếc xe mô tô nhãn hiệu ELGO, số loại C110, màu xanh, biển số 63B9-86895 của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1964, đậu ở cặp mé đường. Đ và T lấy trộm xe trên về nhà cất giấu. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu ELGO, số loại C110, màu xanh, biển số 63B9-86895 trị giá 700.000 đồng.

Vào đêm 25, rạng sáng 26/11/2020, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh Đ và Lê Thành L, sinh ngày 20/4/2007, đến quán cà phê-bida Bảo Trân ở ấp BM, xã TH, thị xã KT, tỉnh Long An. Đ và L đứng ở ngoài còn T vào quán Bida lấy trộm một xe máy nhãn hiệu KWASAKKI (Loại xe Wave Trung Quốc) màu đỏ đen (Xe không gắn biển số) của anh Ngô Thành Vũ L, sinh năm 2002, cư trú tại ấp BM, xã TH, thị xã KT, tỉnh Long An, đậu ở trong quán Bida gần giường ngủ của anh L. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 500.000đồng.

Vào đêm 26/11/2020 Nguyên Trung T và Nguyễn Minh Đ đến xã TP, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp lấy trộm một chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONCIN (loại xe Dreame Trung Quốc), biển số 67H2-8481 của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1997, cư trú tại ấp HV, xã TP, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 1.000.000đồng.

Vào đêm 28, sáng 29/11/2020 Nguyên Trung T và Nguyễn Minh Đ đến ấp 1, xã HB, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp lấy trộm một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, loại Blade màu đỏ-đen, biển số 66K1-25682 của anh Huỳnh Thanh H, sinh năm 1986. Sau khi lấy trộm chiếc xe trên thì T và Đ đẩy xe đến đường bê-tông cặp trạm y tế xã HB để bứt dây mát của xe để nổ máy thì gặp lực lượng Công an xã HB đi tuần tra nên T và Đ đã bỏ lại chiếc xe trên để lẩn trốn.

Ngày 02/3/2021, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện TN, tỉnh Đồng Tháp có kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐGTS, kết luận: giá trị của xe mô-tô hiệu HONDA, loại BLADE màu sơn đỏ- đen, BKS 66K1-256.82 mà Đ và T đã lấy trộm có gái trị 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).

Vào đêm 30/11/2020, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh Đ, Lê Thành L và Hà Văn K, tìm tài sản để lấy trộm. Đ và K đứng ở ngoài còn T đi vào nhà anh Trần Văn Đ, sinh năm 1976, cư trú tại ấp R, xã V, huyện T, tỉnh Long An lấy trộm một điện thoại di động Nokia 105 màu đen của anh Đ đặt trên bàn trong nhà, còn L đi vào hông nhà anh Đ lấy trộm một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu XINHA màu đỏ, biển số: 66H7-3263 của anh Đ. Sau đó cả bốn đối tượng tiếp tục đi đến nhà của anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1970, ngụ cùng ấp, lấy trộm một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SINUDA, màu đỏ đen, biển số 66H7-6121 của anh U rồi cả nhóm điều khiển hai xe vừa lấy trộm được về nhà Nguyễn Trung T và Nguyễn Minh Đ cất giấu. Ngày 01/12/2020 T, Đ, K và L mang chiếc xe 66H7-6121 của anh U đến tiệm ve chai của anh Lê Sỹ H, sinh năm 1975, cư trú Ấp 7, xã NT, huyện TT, tỉnh Long An, bán cho anh H được số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau khi bán xe thì T được chia 250.000đ; L được chia 250.000đ. Đ được chia l00.000đ; K được chia l00.000đ, số tiền còn lại đổ xăng và ăn uống hết. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu XINHA màu đỏ, biển số: 66H7-3263 có trị giá 700.000 đồng; xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SINUDA, màu đỏ đen, biển số 66H7-6121 có giá trị 600.000 đồng; Điện thoại di động hiệu Nokia 105 giá trị 200.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu hồi vật chứng, lời khai của bị hại lời khai người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng… Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, hậu quả và hình phạt bổ sung:

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Căn cứ điểm s khoản 1, Điều 51, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Trong vụ án bị cáo Nguyễn Minh Đ có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội từ 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cụ thể trộm xe mô-tô hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu đen, biển số 66M1-24603, số khung RLCS5C6HOFI142505, số máy 5C6H-142509 có giá trị 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng); Trộm xe mô-tô hiệu HONDA, loại BLADE màu sơn đỏ- đen, BKS 66K1-256.82 mà Đ và T đã lấy trộm có gái trị 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).

Hậu quả: Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Minh Đ đã thực hiện cùng với đồng phạm là 18.700.000đồng (giá trị xe ELGO + điện thoại di động NOKIA105 +xe XINHA + xe YAMAHA + xe BLADE, xe WASAKI, xe SUNUDA, LONCIN). Những tài sản đã trộm cắp định giá dưới 2.000.000đ, xét về mặt chủ quan của bị cáo khi trộm cắp tài sản không xác định được giá trị tài sản. Hội đồng định giá căn cứ theo pháp luật quy định, nên phải tính vào hậu quả giải quyết vụ án.

Về nhân thân bị cáo: Ngày 29/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù giam về tội danh Trộm cắp tài sản. Nhưng bị cáo phạm chưa đủ 18 tuổi, phạm tội ít nghiêm trọng không xem có án tích theo điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Do bị cáo Đ làm nghề lao động giản đơn (làm thuê) và không có tài sản nên Kiểm sát viên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với vụ án và hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó trực tiếp xâm phạm tài sản thuộc sở hữu người khác và gây mất an ninh ở địa phương. Trong vụ án này có nhiều đối tượng trộm cắp, xét vụ án có nhiều đối tượng cùng tham gia nhưng về mặt chủ quan và khách quan đây và vụ án có đồng phạm giản đơn.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần áp dụng mức phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Anh Lê Sỹ H là người đã mua xe mô-tô hiệu SINUDA, dung tích 107, loại xe nữ, màu sơn đỏ đen, biển số đăng ký 66H7-6121 đã qua sử dụng, số khung 61014817, số máy FMH-A014817, với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng), nhưng không biết chiếc xe trên do các đối tượng trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Hưng không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Trong quá trình điều tra anh H không yêu cầu bồi thường, hôm nay anh H xin xét xử vắng mặt, nên trách phần bồi thường riêng vụ án dân sự khi đương sự có yêu cầu,

Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn L trình bày, ngoài chiếc xe mô tô nhãn hiệu ELGO, màu xanh, biển số 63B9-86895 có giá trị 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng) thì ông L còn để trong cốp xe một nhẫn vàng 24k trọng lượng 5 chỉ. Sau khi trộm xe thì bị cáo T giữ một ngày mới giao cho bị cáo Đ. Ông L cho rằng, chiếc nhẫn ông để dưới bình ác quy nên cần tháo bình mới có thể phát hiện được. Do đó, cần làm rõ việc bị cáo T quản lý một ngày và việc tiệm sửa xe có tháo chiếc bình ra hay không. Đồng thời, bị cáo Đ còn khai, cùng với bị can T trộm cắp 01 chiếc xe cúp 50, vào ngày đêm 28/11/202, tại huyện TH, tỉnh Đồng Tháp. Do bị cáo T hiện nay đã bỏ trốn và đang bị truy nã nên cần tách ra để tiếp tục điều tra. Đề nghị, Cơ quan điều tra công an huyện T tiếp tục làm rõ giải quyết đúng theo Bộ luật tố tụng hình sự…

Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Trung T, sinh ngày 18/3/2004, ngụ ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An về tội Trộm cắp tài sản theo Quyết định Khởi tố bị can số: 03 ngày 14 tháng 01 năm 2021. Sau khi khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú thì Nguyễn Trung T đã bỏ trốn nên Cơ quan CSĐT ra Quyết định tách vụ án và truy nã bị can Nguyễn Trung T là đúng quy định Bộ tố tụng luật hình sự.

Đối với các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có yêu cầu về mặt dân sự thì tách ra giải quyết theo tố tụng dân sự.

Hành vi trộm cắp chiếc xe SUZUKI ở huyện TN, tỉnh Đồng Tháp, hiện nay cơ quan điều tra huyện TN đang thụ lý giải quyết.

Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng xét thấy nếu để bị cáo tại ngoại có khả năng bị cáo sẽ bỏ trốn hơn nữa tình hình diễn biến dịch COVID- 19 phức tạp nên cần phải tiếp tục giam bị cáo tại phiên tòa để đảm bảo thi hành án hành sự theo điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với Lê Thành L, sinh ngày 20/4/2007, cư trú tại khu phố R A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An cùng T, Đ và K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 30/11/2020, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Tuy nhiên, Lê Thành L không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Lê Thành L chưa đủ 14 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và bị Luật xử lý Vi phạm hành chính nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Hưng không khởi tố bị can đối với Lê Thành L là có căn cứ.

Đối với Hà Văn K, sinh ngày 17/8/2004 (K chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự), tạm trú: khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, cùng Đ, T và L thực hiện hành vi trộm cắp một chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 trị giá 200.000 đồng, một chiếc xe mô-tô hai bánh nhãn hiệu XINHA màu đỏ, biển số: 66H7-3263 của anh Trần Văn Đ, sinh năm 1976, ngụ ấp R, xã V, huyện T, tỉnh Long An có trị giá 700.000đ và trộm cắp một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SINUDA, màu đỏ đen, biển số 66H7-6121 của anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1970, ngụ cùng ấp, có trị giá 600.000đ vào ngày 30/11/2020, không đủ yếu tố cấu thanh tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 BLHS. Đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K theo quy định pháp luật là có cơ sở.

Cáo trạng của viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật viện dẫn có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật và xác định khung hình phạt tại điểm khoản 1 Điều 173 là phù hợp.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tài sản thuộc sở hữu của bị hại, cơ quan điều tra đã xử lý, Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Đối với đồ vật, tài liệu gồm: 01 cờ lê vòng miệng bằng kim loại, có chữ YOFED3114, loại cờ lê vòng miệng 14; 01 cờ lê vòng miệng bằng kim loại, một mặt có chữ CHROME VANADIUM, một mặt có chữ YETI USA Standard (13); 01 cờ lê vòng miệng -10, bằng kim loại, bề mặt có chữ DIAMOND BRAND; 01 cái tua vít, bằng kim loại, 01 đầu dẹp, 01 đầu bake, cán bằng nhựa màu trắng và đỏ, dài 25,5cm. Đây là dụng cụ mà Nguyễn Trung T dùng để trộm cắp tài sản. Do hiện nay Nguyễn Trung T đã bỏ trốn và Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra quyết định tách vụ án, quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, quyết định truy nã nên giao Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Hưng tiếp tục tạm giữ. Khi tìm được bị can T sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau: 01 Cờ lê vòng miệng bằng kim loại, nhãn hiệu DIAMOND CHINA loại cờ lê vòng miệng 17; 01 cờ lê miệng bằng kim loại màu trắng nhãn hiệu DIAMOND CHINA loại cơ lê 14; 01 Kiềm bấm chết 10CRIP bằng kim loại nhãn hiệu Japan.

Trả lại cho ông Nguyễn Văn L 01 chiếc mô tô hiệu LONCIN (loại xe Dreame Trung Quốc), biển số 67H2-8481;

Về dân sự: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L tiền sửa xe 1.000.000 đồng đối với Nguyễn Minh Đ.

Ông Nguyễn Minh Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn L với số tiền 1.000.0000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu 200.000 tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 và Điều 58, Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ming Đ, 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, ngày 01 tháng 02 năm 2021.

Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh Đ để đảm bảo cho việc thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bồ sung năm 2017) Cơ quan điều tra đã xử lý đúng theo quy định pháp luật.

Trả lại một chiếc xe nhãn hiệu LONCIN (loại xe Dreame Trung Quốc), biển số 67H2-8481 cho ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1997, cư trú tại ấp HV, xã TP, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp.

(Hiện chiếc xe Cơ quan điều tra công an huyện T đang quản lý. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T có trách nhiệm chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện T để thi hành án).

Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau: 01 Cờ lê vòng miệng bằng kim loại, nhãn hiệu DIAMOND CHINA loại cờ lê vòng miệng 17; 01 cờ lê miệng bằng kim loại màu trắng nhãn hiệu DIAMOND CHINA loại cơ lê 14; 01 Kiềm bấm chết 10CRIP bằng kim loại nhãn hiệu Japan (Do bị cáo Đ sử dụng để trộm cắp).

5. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn L với số tiền 1.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

6. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu 200.000 tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án niêm yết.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ