vanban.org

Bản án 10/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 03/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2020. Quyết định tạm giam bị cáo Trần Thanh T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Tĩnh - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HS-ST
Ngày 03-02-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trường Giang;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Ngư;

Ông Nông Văn Thịnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Trần Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2020/TLST - HS, ngày 02 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:

Trần Thanh T, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1981 tại xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nơi cư trú: ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2, sinh năm 1950 và bà Lưu Thị S, sinh năm 1951; bị cáo có vợ là Trần Thị D, sinh năm 1984 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Bản án số 81/2009/HSST ngày 16/9/2009, Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Trần Thanh T 28 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Tại Bản án số 147/2015/HSST ngày 15/5/2015, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Trần Thanh T 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; có mặt;

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987;

Nơi ĐKHKTT: Xóm Tân Hòa, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

2. Anh Đinh Văn H, sinh năm 1981.

Nơi ĐKHKTT: Xóm Mỹ Khánh, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Đỗ Ngọc T1, sinh năm 1972;

Nơi ĐKHKTT: Xóm Đồi Chè, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 16/8/2020, tại đường liên xóm Đồi Chè-Làng Phan, thuộc địa phận xóm Đồi Chè, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác Công an huyện Phú Lương phát hiện Trần Thanh T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho một người nam giới đi xe mô tô, không rõ biển kiểm soát. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra thì người nam giới trên đã cầm ma túy điều khiển xe mô tô bỏ chạy, còn lại Trần Thanh T. Đỗ Ngọc T1 thừa nhận vừa bán 01 gói ma túy, loại Heroine trên cho một người đàn ông tên H, trú ở khu vực Chợ Chè, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương với giá 200.000 đồng. Đỗ Ngọc T1 tự nguyện giao nộp 01 gói chất bột màu trắng, nghi là ma túy, loại Heroine cất giấu dưới mái lợp prôximăng trên sân giếng nhà Đỗ Ngọc T1. Theo Đỗ Ngọc T1 khai là ma túy, loại Heroine, Đỗ Ngọc T1 mua của một người đàn ông không quen biết tại đường tròn Tân Long, thành phố Thái Nguyên với giá 1.500.000 đồng, mục đích để bán lại cho những người nghiện khác kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gói chất bột màu trắng của Đỗ Ngọc T1, niêm phong trong phong bì ký hiệu T1; thu giữ tại túi quần phía sau bên trái của Đỗ Ngọc T1 200.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng tiền Việt Nam, số tiền trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2; thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Đỗ Ngọc T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, cũ, loại cảm ứng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T3.

Thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 49/CQCSĐT ngày 16/8/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở, đồ vật…của Trần Thanh T tại xóm Đồi Chè, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; kết quả: Không phát hiện thu giữ gì.

Cùng ngày, tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, tiến hành mở niêm phong bì ký hiệu T1 cân số chất bột thu giữ của Trần Thanh T có khối lượng là 1,484 gam. Niêm phong lại toàn bộ trong bì niêm phong ký hiệu A1 để gửi giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1079/KL-KTHS ngày 24/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 1,484 gam”. Hoàn lại 1,460 gam mẫu A1 còn lại sau giám định.

Qua xác minh xác định, người nam giới mua ma túy của Đỗ Ngọc T1 vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 16/8/2020 là Đinh Văn H, sinh năm 1981, trú tại xóm Mỹ Khánh, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, lắp sim điện thoại có số thuê bao 0382.627.238, niêm phong trong phong bì ký hiệu H1.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh T khai nhận: Ngày 14/8/2020, Đỗ Ngọc T1 đi đến khu vực đường tròn Tân Long, thành phố Thái Nguyên gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 1.500.000 đồng. Mua được ma túy, Đỗ Ngọc T1 đem về cất giấu trên mái lợp proximăng ở sân giếng, mục đích để bán cho những người nghiện khác kiếm lời. Khoảng 09 giờ ngày 16/8/2020, Đỗ Ngọc T1 đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Đinh Văn H gọi đến hỏi mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, Đỗ Ngọc T1 đồng ý. Đỗ Ngọc T1 lấy gói Heroine đã cất giấu trên mái sân giếng xuống chia một phần theo ước lượng giá tiền H đặt mua rồi gói lại bằng giấy bạc màu vàng, số Heroine còn lại, Đỗ Ngọc T1 đặt lại lên vị trí cũ. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, H đi xe môtô đến, Đỗ Ngọc T1 cầm gói Heroine đã chuẩn bị từ trước đi ra đoạn đường đất trước cổng nhà Đỗ Ngọc T1 đưa ma túy cho H, H đưa lại cho Đỗ Ngọc T1 số tiền 200.000 đồng. Khi H cầm gói ma túy lên xe đi thì Đỗ Ngọc T1 bị Tổ công tác Công an huyện Phú Lương bắt quả tang, Đỗ Ngọc T1 tự giác chỉ chỗ cất giấu số ma túy còn lại trên mái lợp proximăng ở sân giếng và giao nộp cho Tổ công tác.

Quá trình điều tra, Đỗ Ngọc T1 còn khai nhận: Vào khoảng 08 giờ ngày 15/8/2020, khi đang ở nhà Đỗ Ngọc T1 nhận được điện thoại của Nguyễn Văn K, sinh năm 1987, trú tại xóm Tân Hòa, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, hỏi mua 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng, Đỗ Ngọc T1 đồng ý. Đỗ Ngọc T1 lấy gói Heroine trên mái lợp ở sân giếng, lấy một phần ma túy theo ước lượng số tiền K mua, gói lại bằng giấy bạc màu vàng, số ma túy còn lại Đỗ Ngọc T1 cất vào vị trí cũ. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, K đi xe mô tô đến nhà Đỗ Ngọc T1, khi K đi vào khu vực sân giếng, Đỗ Ngọc T1 cầm gói ma túy chuẩn bị từ trước bán cho K, K đưa cho Đỗ Ngọc T1 số tiền 200.000 đồng (01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng).

Tại biên bản mở niêm phong, kiểm tra dữ liệu điện thoại ngày 24/9/2020 và 26/10/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương đối với chiếc điện thoại tạm giữ của Trần Thanh T, Đinh Văn H xác định: Vào hồi 09 giờ 18 phút ngày 16/8/2020, từ số điện thoại 0382.627.238 của Đinh Văn H, lắp ở điện thoại di động Nokia đã cũ gọi đến số điện thoại 0968.722.876 của Đỗ Ngọc T1, lắp ở điện thoại di động Vivo màu đen, cũ, thời lượng 21 giây. Đỗ Ngọc T1, H đều xác định đây là cuộc gọi của H gọi cho Đỗ Ngọc T1 để hỏi mua ma túy. Đối với cuộc điện thoại hỏi mua ma túy của Nguyễn Văn K cho Đỗ Ngọc T1, quá trình kiểm tra điện thoại của Đỗ Ngọc T1 tại các ứng dụng không thể hiện. Đỗ Ngọc T1 khai không nhớ K gọi bằng hình thức nào và xác định không lưu trữ được.

Vật chứng vụ án gồm: 200.000 đồng tiền Việt Nam; 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 1,460 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu T1 và vỏ giấy gói; 01 bì niêm phong ký hiệu T4, bên trong có 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, vỏ màu đen, cũ; 01 bì niêm phong ký hiệu H2, bên trong có 01 điện thoại di động loại Nokia, vỏ màu đen đã qua sử dụng. Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng theo quy định chờ xử lý.

Bản Cáo trạng số 95/CT-VKSPL, ngày 30/11/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Thanh T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

* Về căn cứ điều luật và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 /12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 09 đến 10 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vỏ bì niêm phong và giấy gói cùng với số ma túy thu giữ được của bị cáo. Tịch thu, sung quỹ nhà nước 200.000 đồng tiền Việt Nam là tiền thu lời bất chính do bị cáo bán ma túy cho Đinh Văn H mà có được; truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền thu lời bất chính từ việc bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Văn K; tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Vivo đã cũ thu giữ của bị cáo Trần Thanh T; trả lại cho Đinh Văn H 01 chiếc điện thoại di động Nokia đã cũ.

* Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo Trần Thanh T nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Trần Thanh T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng anh Đinh Văn H, anh Nguyễn Văn K tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng người làm chứng vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của người làm chứng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người làm chứng. Quá trình điều tra, người làm chứng đã có lời khai, ý kiến trình bày lưu trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Việc Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng (anh H, anh K) theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Về chứng cứ buộc tội và tội danh bị truy tố: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cùng với những tài liệu đã thu thập tại hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ, sơ đồ phát hiện bắt giữ đối tượng; bản kết luận giám định, các bản tự khai, tường trình, biên bản hỏi cung, biên bản ghi lời khai của những người tham gia tố tụng, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 15/8/2020 và ngày 16/8/2020, Trần Thanh T đã 02 lần mua bán trái phép chất ma túy cho người nghiện khác để kiếm lời, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 09 giờ ngày 15/8/2020, tại sân giếng của nhà mình, ở xóm Đồi Chè, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Trần Thanh T đã bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng cho Nguyễn Văn K.

Lần 2: Vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 16/8/2020, tại đường liên xóm Đồi Chè-Làng Phan, thuộc địa phận xóm Đồi Chè, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (đoạn trước cửa nhà Trần Thanh T), Trần Thanh T bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng cho Đinh Văn H thì bị Tổ công tác Công an huyện Phú Lương phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy loại Heroine do Đỗ Ngọc T1 tự nguyện giao nộp có khối lượng là 1,484 gam.

Hành vi 02 lần bán trái phép chất ma túy cho những người khác nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Nội dung Điều luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b, Phạm tội 02 lần trở lên;”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bị cáo biết rõ chất ma túy có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại xấu đến con người, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Thanh T thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết phạm tội 02 lần trở lên trong vụ án được xác định là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo nên không được coi là tình tiết tăng nặng.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt áp dụng: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Trần Thanh T có nhân thân xấu, là người nghiện chất ma túy, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy” tại Bản án số 81/2009 ngày 16/9/2009. Đến năm 2015, Trần Thanh T tiếp tục bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 147/2015/HSST ngày 15/5/2015. Sau khi chấp hành án xong, trở về địa phương bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân, không có nghề nghiệp ổn định, tiếp thụ thực hiện hành vi phạm tội, điều đó cho thấy ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo đã cố ý tàng trữ chất ma túy để bán thu lợi bất chính nên cần phải xử phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Thanh T thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích kiếm lời lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự để phạt bổ sung đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh của bị cáo hiện nay là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, ở nhờ nhà anh trai, không có tài sản riêng, việc áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là không có tính khả thi. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đỗ Ngọc T1 khai về nguồn gốc số Heroine do mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực đường tròn Tân Long, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan điều tra, không có cơ sở xác minh làm rõ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi của Đinh Văn H mua ma túy của Đỗ Ngọc T1 để sử dụng cho bản thân, xét thấy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng đã vi phạm Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 trong lĩnh vực an ninh trật tự xã hội. Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn K mua ma túy của Đỗ Ngọc T1: Sau khi mua ma túy của Đỗ Ngọc T1, K tàng trữ trong người thì bị Công an huyện Phú Lương phát hiện bắt quả tang, thu giữ số Heroine trên. Hiện Nguyễn Văn K đang bị khởi tố trong vụ án khác.

Về vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo còn lại sau khi giám định, thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành, mua bán; các vỏ bì niêm phong và giấy gói không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 200.000 đồng thu của bị cáo là tiền thu lời bất chính từ việc bị cáo bán ma túy cho Đinh Văn H, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền thu lời bất chính từ việc bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Văn K; đối với 01 chiếc điện thoại di động Vivo đã cũ thu giữ của bị cáo, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước. Trả lại 01 chiếc điện thoại di động Nokia đã cũ thu giữ của Đinh Văn H.

Về án phí: Theo quy định của Luật phí và lệ phí năm 2015, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác cơ bản là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 106; 136; 293; 298; 329; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2020.

Quyết định tạm giam bị cáo Trần Thanh T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 1,460 gam Heroine mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu T1 và vỏ giấy gói;

Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T4, bên trong có 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, vỏ màu đen, cũ;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tiền ngân hàng nhà nước: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) là tiền thu lời bất chính thu giữ của bị cáo.

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) là tiền thu lời bất chính đối với bị cáo Trần Thanh T.

Trả lại cho Đinh Văn H: 01 bì niêm phong ký hiệu H2 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 19/2021 lập ngày 28/12/2020 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương; tiền theo Ủy nhiệm chi số 139 lập ngày 15/12/2020 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ