- Tranh chấp gì? án hình sự — "lê Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2021/HS-ST Ngày 04 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Tuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Dệt
2. Ông Lê Đức Thuận
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2021/TLST-HS ngày 04/02/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 19/02/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn L, sinh năm 1994, tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L1, sinh năm 1962 và bà Lê Thị L2, sinh năm 1960; có vợ là Hà Thị Ng, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2015;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 21/01/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xử phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 12 ngày về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án hình sự số 03/2013/HSST; bị bắt tạm giữ từ ngày 11/11/2020 đến ngày 20/11/2020 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nông Cống (có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng: Nguyễn Đình Th, sinh năm 1978 (vắng mặt)
ĐKHKTT: Tiểu khu NT, thị trấn C, huyện N, tỉnh Thanh Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 40 phút ngày 11/11/2020, Công an huyện Nông Cống phát hiện Lê Văn L nằm bất tỉnh bên cạnh một xe mô tô nhãn hiện Honda Wave Alpha màu xanh, số khung RLHJA391XLY151139, số máy JA39E1488986, không gắn biển kiểm soát. Tiến hành kiểm tra người Lê Văn L phát hiện 06 gói nhỏ chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà (nghi là ma túy) ở túi quần trước bên phải của L. Qua đấu tranh L khai là ma túy, Cơ quan CSĐT đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 06 gói nhỏ L khai là ma túy.
Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn L nhưng không thu giữ thêm được đồ vật, tài liệu nào khác.
Tại Cơ quan CSĐT, Lê Văn L khai báo, ngày 09/11/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Văn L bắt xe bus từ Nông Cống ra đến khu vực ngã tư V
- thành phố H gặp một người đàn ông lạ mặt mua 06 gói nhỏ ma túy với giá 600.000đ. Đến ngày 11/11/2020, Lê Văn L mượn xe mô tô của anh Nguyễn Đình Th (sinh năm 1978, trú tại tiểu khu NT, thị trấn C) đi mua bơm kim tiêm để sử dụng ma túy, sau đó L đi lên nghĩa trang thuộc thôn B, xã V để sử dụng ma túy, sử dụng ma túy xong L đi về đến tiểu khu Đ, thị trấn C thì bị sốc ma túy và nằm bất tỉnh.
Ngày 12/11/2020, Cơ quan CSĐT ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 178/CSĐT đối với tang vật thu giữ được.
Tại bản kết luận giám định số 3010/PC09 ngày 17/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 0,470g (Không phẩy bốn bảy mươi gam) loại: Hêrôine.
Đối với người bán ma túy cho L, L không biết lai lịch, không nhớ rõ đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiện Honda Wave Alpha màu xanh số khung RLHJA391XLY151139, số máy JA39E1488986, không gắn biển kiểm soát thu giữ khi bắt quả tang là xe của anh Nguyễn Đình Th, anh Th không biết L mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên ngày 26/11/2020, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Th.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 03/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Lê Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Lê Văn L mức án từ 18 đến 24 tháng tù; tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo nhận tội xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của CQĐT Công an huyện Nông Cống và Điều tra viên; của VKSND huyện Nông Cống và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định được: Vào khoảng 8 giờ 40 phút, ngày 11/11/2020 tại tiểu khu Đ, thị trấn C, Công an huyện Nông Cống phát hiện và bắt quả tang Lê Văn L đang có hành vi tàng trữ 0,470g (Không phẩy bốn trăm bảy mươi gam) ma túy loại heroine. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trước đây bị cáo đã khai nhận tại CQĐT, phù hợp với tang vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án.
Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Các tội phạm về ma tuý đang là vấn nạn trong đời sống xã hội, làm tha hoá về mặt đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh thiếu niên, làm gia tăng tình hình tội phạm và các loại tệ nạn khác. Ma tuý cũng là một trong những nguyên nhân gây lan truyền căn bệnh HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung. Hành vi tàng trữ trái phép 0,470g (Không phẩy bốn trăm bảy mươi gam), loại: Heroine như kết luận giám định của Lê Văn L là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Đủ cơ sở để HĐXX khẳng định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là chính xác.
Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy cần áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Áp dụng Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm:
- 01(một) niêm phong, do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, bên trong đựng 0,425g heroine là mẫu vật còn lại sau giám định đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu và tiêu huỷ;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 329 BLTTHS:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Lê Văn L 16 (Mười sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/11/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu và tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật hoàn trả lại sau giám định.
Vật chứng của vụ án được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nông Cống và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống lập ngày 03/02/2021.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc Lê Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/3/2021).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Nông Cống; - Công an huyện Nông Cống; - Cơ quan THA hình sự; - Chi cục THADS huyện Nông Cống; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Lê Xuân Tuyên |