vanban.org

Bản án 10/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định Tuyên án 13/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Trọng T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Trọng T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Trọng T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trọng T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Trọng T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HS-ST
Ngày: 13-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Minh Tấn;

Bà Nguyễn Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Thường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoài Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử số: 09/2021/TB-TA ngày 02 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Trọng T; tên gọi khác: không; sinh ngày 02 tháng 10 năm 1957, tại Bình Định; nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê P (chết); con bà: Đỗ Thị S (chết); vợ: Lê Thị Thu T1; có 04 con: lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Lê Trọng T2, sinh năm 1985;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.

+ Ông Nguyễn Út H, sinh năm 1997;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Lê Trọng B, sinh năm 1954;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.

+ Bà Võ Thị X, sinh năm 1986;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.

+ Ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

+ Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.

+ Ông Lê Tiến V, sinh năm 1989;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

+ Ông Lê Triều T4, sinh năm 1975;

Nơi cư trú: thôn S, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

+ Bà Hà Thị Lệ Y, sinh năm 1975;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1977;

Nơi cư trú: thôn M, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/01/2021, Lê Trọng T điều khiển xe mô tô đến nhà Lê Trọng B ở thôn M, xã A, huyện Hoài Ân để nói chuyện hốt cốt mồ mả và xảy ra mâu thuẫn, do nói lớn tiếng nên Lê Trọng T2, Võ Thị X, Nguyễn Thị N đang ngủ ở phòng kế bên thức dậy và khuyên Lê Trọng T đi về. Sau đó, Lê Trọng T xông vào người nên Lê Trọng T2 đẩy ra làm T ngã trúng vào xe mô tô bị thương ở vùng mặt, T chạy sang nhà Lê Văn Đ lấy 01 con dao bầu dài 41cm đứng trước nhà B; T2 thấy vậy xuống nhà bếp lấy 01 con dao bầu dài 34cm chạy ra ngoài đường. Nguyễn Thị N thấy T2 cầm dao nên chạy theo can ngăn, khi T và T2 đứng cách nhau khoảng 05m, T dùng dao phóng về phía T2 nhưng lại trúng vào vùng ngực trái Nguyễn Thị N gây thương tích. Võ Thị X thấy vậy nên gọi Lê Tiến V đến chở đi bệnh viện. Sau đó, V điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Út H đến thấy Nguyễn Công T3 đang can ngăn. Lúc này, H đi đến dùng tay phải đấm 01 cái vào vùng má trái làm T ngã xuống đường, gây thương tích.

Ngày 09/4/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Thị N là 02%. Ngày 20/5/2021, Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu xử lý hình sự.

Ngày 09/4/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Lê Trọng T là 06%. Đến ngày 09/9/2021, Lê Trọng T có đơn yêu cầu giám định bổ sung thương tật nên ngày 19/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định lại nhưng chưa có kết quả.

Về vật chứng: Tạm giữ 02 con dao bầu.

Về phần dân sự: Bị cáo Lê Trọng T chưa bồi thường cho bị hại.

Bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSHA ngày 18/10/2021 của VKSND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Lê Trọng T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra bị cáo Lê Trọng T đã thừa nhận phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trọng T có mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị hại Nguyễn Thị N yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nhưng tại phiên tòa, bị hại và ông Lê Trọng B (chồng bị hại) đã tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gây ra, nên cần ghi nhận sự tự nguyện của bị hại.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 con dao bầu.

Bị hại Nguyễn Thị N nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện VKSND huyện Hoài Ân, đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật và tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Ân, Điều tra viên, VKSND huyện Hoài Ân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, Lê Trọng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/01/2021, Lê Trọng T điều khiển xe mô tô đến nhà Lê Trọng B ở thôn M, xã A, huyện Hoài Ân để nói chuyện hốt cốt mồ mả và xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, Lê Trọng T dùng dao là hung khí nguy hiểm phóng trúng vào ngực trái Nguyễn Thị N gây thương tích, hậu quả Nguyễn Thị N bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 02%. Do đó, hành vi của Lê Trọng T đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo ý thức được việc xâm phạm sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Nên, cần phải lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt cho xã hội và làm gương cho những người khác. Nhưng xét, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là con của liệt sĩ; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt. Mặt khác, xét thấy bị cáo từ trước đến nay không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra bị hại Nguyễn Thị N yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, nhưng tại phiên tòa bị hại và ông Lê Trọng B (chồng bị hại) đã tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gây ra, nên cần ghi nhận sự tự nguyện của bị hại.

Về xử lý vật chứng:

- 01 con dao dài 41 cm, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 con dao dài 34 cm, do Lê Trọng T2 mang ra không liên quan đến vụ án nên cần tuyên trả cho ông Lê Trọng B.

Đối với hành vi của Lê Trọng T2, Nguyễn Út H dùng tay xô ngã và đánh Lê Trọng T bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 06%. Tuy nhiên, ngày 09/9/2021, Lê Trọng T có đơn yêu cầu giám định bổ sung thương tật; ngày 19/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu giám định lại nhưng chưa có kết quả nên đã tách vụ án hình sự, khi có kết quả giám định sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015.

- Tuyên bố bị cáo Lê Trọng T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Lê Trọng T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Trọng T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 41 cm.

- Trả lại cho ông Lê Trọng B 01 (một) con dao dài 34 cm.

Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 19/10/2021, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Ân và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Trọng T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ