vanban.org

Bản án 10/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lai Bảo T đối với bị đơn anh Trần Tài S (S1).

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lai Bảo T được ly hôn với anh Trần Tài S (S1). Về con chung: Giao cháu Trần Hiểu N (nữ), sinh ngày 01/01/2011 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Giao cháu Trần Thiên P (nam), sinh ngày 11/4/2013 cho anh S (S1) trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu P đủ 18 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Lai Bảo T; BĐ Trần Tài S"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lai Bảo T đối với bị đơn anh Trần Tài S (S1).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29/01/2021
V/v Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Trung Nghĩa

2. Ông Triệu Khánh Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 29/01/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 269/2020/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25/12/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2021/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lai Bảo T, sinh năm 1986

Địa chỉ: Số nhà 185, đường Phan Thanh Giản, khóm 1, phường 1, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Tài S, (Trần Tài S1), sinh năm 1986

Địa chỉ: Số nhà 149, ấp Nô Thum, xã Vĩnh Tân, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/9/2020 (BL22) biên bản lấy lời khai ngày 01/12/2020 (BL01) cũng như quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lai Bảo T trình bày: Vào năm 2009, chị Lai Bảo T và anh Trần Tài S (S1) có tổ chức lễ cưới, đến năm 2011có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn VC, huyện Vĩnh Châu (nay là Ủy ban nhân dân phường A, thị xã VC) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/02/2011. Sau lễ cưới chị T về làm dâu bên nhà chồng tại ấp T, xã T1, thị xã VC. Trong quá trình chung sống với nhau chị T và anh S (S1) có 02 (hai) con chung là cháu Trần Hiểu N (nữ), sinh ngày 01/01/2011 và cháu Trần Thiên P (nam), sinh ngày 11/04/2013 hiện cháu N đang do chị T nuôi dưỡng, cháu P đang do anh S (S1) nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không có. Qúa trình sống chung, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tình cảm ngày càng phai nhạt nên không còn yêu thương nhau, nên từ tháng 6 năm 2019 thì chị T và anh S (S1) đã ly thân cho đến nay.

Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn hạnh P, mục đích hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh S (S1). Về con chung chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Hiểu N đến đủ 18 tuổi, đối với cháu Trần Thiên P đang sống chung với anh S (S1) nên chị T đồng ý giao cho anh S (S1) được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S (S1), nhưng anh S (S1) không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị T, đồng thời anh S (S1) cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu xác định: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy Nên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh S (S1), giao con chung là cháu Trần Hiểu N (nữ), sinh ngày 01/01/2011cho chị T nuôi dưỡng và cũng theo nguyện vọng của cháu N nếu cha mẹ không còn sống chung với nhau thì cháu N có nguyện vọng sống với chị T. Giao cháu Trần Thiên P, sinh ngày 11/4/2013 cho anh S (S1) nuôi dưỡng và cũng theo nguyện vọng của cháu P nếu cha mẹ không còn sống chung với nhau thì cháu P có nguyện vọng sống với anh S (S1). Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh S (S1) phải cấp dưỡng nuôi cháu N và anh S (S1) không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi cháu P nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh S (S1), nhưng anh S (S1) vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh S (S1).

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lai Bảo T nhận thấy hôn nhân của chị T và anh S (S1) là tự tìm hiểu và đến với nhau, có tổ chức lễ cưới vào năm 2009 đến năm 2011có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn VC, huyện Vĩnh Châu (nay là Ủy ban nhân dân phường A, thị xã VC) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/02/2011. Quan hệ hôn nhân của chị T và anh S (S1) không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống, đến năm 2019 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau thường hay xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Chị T nhận thấy cuộc sống chung không hạnh P, không còn tình cảm vợ chồng với anh S (S1) nên có nguyện vọng ly hôn. Chị T và anh S (S1) đã không còn chung sống với nhau từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay. Hội đồng xét xử đã phân tích động viên chị T suy nghĩ lại, hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh S (S1), nhưng chị T vẫn cương quyết ly hôn, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh S (S1).

Về con chung: Thời gian chung sống với nhau chị T và S (S1) có 02 người con chung tên Trần Hiểu N (nữ), sinh ngày 01/01/2011 và cháu Trần Thiên P (nam), sinh ngày 11/4/2013 chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Hiểu N đến đủ 18 tuổi và đồng ý giao cháu Trần Thiên P cho anh S (S1) nuôi dưỡng, chị T và anh S (S1) không ai phải cấp dưỡng nuôi con và ý kiến của cháu N nếu cha mẹ không sống chung với nhau, cháu N có nguyện vọng sống chung với chị T, ý kiến của cháu P nếu cha mẹ không còn sống chung với nhau thì cháu P có nguyện vọng sống với anh S (S1). Để đảm bảo cuộc sống của cháu N và cháu P không bị xáo trộn, để các cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Trần Hiểu N cho chị T nuôi dưỡng, giao cháu Trần Thiên P cho anh S (S1) nuôi dưỡng. Xét thấy, chị T hiện có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị T là không yêu cầu anh S (S1) phải cấp dưỡng nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi cháu P do anh S (S1) không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi cháu P nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị T khẳng định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị T khẳng định nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lai Bảo T đối với bị đơn anh Trần Tài S (S1).

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lai Bảo T được ly hôn với anh Trần Tài S (S1).

- Về con chung: Giao cháu Trần Hiểu N (nữ), sinh ngày 01/01/2011 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Giao cháu Trần Thiên P (nam), sinh ngày 11/4/2013 cho anh S (S1) trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Chị T và anh S (S1) không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Lai Bảo T và anh Trần Tài S (S1) có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Chị T và anh S (S1) không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Hiểu N của chị T, cháu Trần Thiên P của anh S (S1) thì chị T, anh S (S1) có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

- Về tài sản chung: Chị T khẳng định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Chị T khẳng định nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2/ Về án phí sơ thẩm: Chị Lai Bảo T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai số 0006349, ngày 05/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí. Anh Trần Tài S (S1) không phải chịu án phí sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục P thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ