vanban.org

Bản án 10/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị H về việc “Ly hôn” đối với anh Nguyễn Văn L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L. Về con và tài sản: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn L đều xác định cho đến nay không có con chung, con riêng không ai có; về tài sản và công nợ không có và không có yêu cầu. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị H về việc “Ly hôn” đối với anh Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN KHÁNH
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 10 / 2021/ HNGĐ - ST
Ngày : 17 / 9/ 2021.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Về việc: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Nhật Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Thu và bà Phùng Thị Hằng.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 53/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2021về việc “Ly hôn” theo Quyết định xét xử số 08/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Số nhà 03, phố Thượng T, thị trấn Yên N, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Xóm 3, Xuân T, xã Khánh V, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa có mặt chị Đinh Thị H; còn vắng mặt anh Nguyễn Văn L (anh L có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 02/9/2021).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai cùng các văn bản khác nguyên đơn là chị Đinh Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L được tự do tìm hiểu, sau đó tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 22 tháng 7 năm 2011 tại UBND xã Khánh V, huyện Yên Khánh, vợ chồng đã được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống cùng với gia đình anh L tại xóm 3, Xuân T, xã Khánh V. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, trong cuộc sống không tìm được tiếng nói chung, anh L thường xuyên uống rượu rồi có những hành vi đánh chửi chị H. Mặt khác vợ chồng chung sống với nhau đã 2 năm mà vẫn chưa có con, do cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng và không có hạnh phúc nên chị đã dọn về nhà bố mẹ đẻ ở phố Thượng T, thị trấn Yên N, huyện Yên Khánh để sinh sống, từ tháng 6 năm 2013 cho đến nay. Tuy nhiên trong khoảng thời gian sống ly thân chị và anh L không còn quan tâm, liên lạc với nhau nữa. Nay chị xác định, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, chị và anh L không thể về đoàn tụ được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về con: Trong quá trình chung sống cho đến nay chị và anh L không có con chung; về con riêng, chị và anh L không ai có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Chị và anh L không có tài sản chung, còn về tài sản riêng, công nợ và đất nông nghiệp không có. Do vậy nay ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn L, hiện tại anh đang có hộ khẩu và làm ăn sinh sống tại xóm 3, Xuân T, xã Khánh V, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt về thông báo thụ lý cho anh Nguyễn Văn L, nhưng anh L đi làm không có nhà nên ông Nguyễn Văn C là bố đẻ của anh L nhận thay và đã giao lại thông báo cho anh L. Đã quá thời hạn nhưng anh L vẫn không có bản tự khai trình bày về quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Tòa án đã báo gọi nhiều lần, nhưng anh L không đến Tòa án làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Song trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 18/8/2021 Tòa án đã đến nhà gặp và tiến hành lập biên bản làm việc với anh L, hướng dẫn anh viết bản khai, song anh L đã đề nghị Tòa án lấy lời khai của anh và anh giao nộp 01 bản sao căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L, việc ghi lời khai của anh L có sự chứng kiến của Công an xã Khánh V. Tại biên bản làm việc, biên bản ghi lời khai và cùng với các biên bản giao văn bản tố tụng khác, anh L đều có quan điểm nhất trí ly hôn với chị H và xác định vợ chồng không có con chung, con riêng không ai có, còn về tài sản vợ chồng không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về thủ tục: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý đến trước khi xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện về quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được xét xử theo đúng thủ tục chung.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện chị Đinh Thị H, xử cho ly hôn với anh Nguyễn Văn L. Về con và tài sản chị H, anh L không có và không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Đinh Thị H có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn L, có địa chỉ tại xã Khánh V, huyện Yên Khánh. Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Yên Khánh, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn L vắng mặt vì lý do anh có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn L đã có thời gian tự do tìm hiểu nhau, trước khi cưới anh chị đã tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 7 năm 2011 tại UBND xã Khánh V, huyện Yên Khánh, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng luôn bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau. Do mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng hay cãi chửi nhau nên năm 2013 chị H đã dọn về nhà bố mẹ đẻ tại phố Thượng T, thị trấn Yên N để sinh sống. Trong thời gian sống ly thân từ tháng 6 năm 2013 cho tới nay chị H và anh L không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Căn cứ vào các tài liệu chị H xuất trình cũng như qua biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy hôn nhân giữa chị H và anh L trong quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân nên tình cảm dành cho nhau không còn, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ và quan điểm của anh L nhất trí ly hôn . Từ những căn cứ và đánh giá nêu trên có đủ cơ sở để khẳng định tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh L đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị H xin ly hôn với anh L là phù hợp.

Về con: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn L không có con chung, về con riêng không ai có, do vậy chị H, anh L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản: Trong quá trình Tòa án giải quyết chị H và anh L đều xác định không có tài sản, công nợ và đất nông nghiệp không có, nên chị H, anh L không có yêu cầu, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Đinh Thị H là nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án:

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị H về việc “Ly hôn” đối với anh Nguyễn Văn L.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

- Về con và tài sản: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Văn L đều xác định cho đến nay không có con chung, con riêng không ai có; về tài sản và công nợ không có và không có yêu cầu. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Chị Đinh Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình để sung ngân sách Nhà nước. Được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0005440 ngày10 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ