vanban.org

Bản án 10/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị N, cho chị Triệu Thị N được ly hôn với anh Mai Văn Th.

Về con chung: Giao cháu Mai Phương T1, sinh ngày 16/4/2018 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Th do chị N không yêu cầu. Anh Th được quyền đi lại thăm con chung không bị ai cản trở. Án phí: Chị Triệu Thị N phải nộp 300.000 đồng án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Triệu Thị N và Mai Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị N, cho chị Triệu Thị N được ly hôn với anh Mai Văn Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 31/8/2021
V/v kiện xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Khánh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư;

2. Ông Nông Văn Thịnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2021/TLST - HNGĐ, ngày 13/01/2021 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Triệu Thị N, sinh năm 1999 (có mặt).

Bị đơn: Anh Mai Văn Th, sinh năm 1994 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Xóm G1, xã P1, huyện P, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn là Triệu Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N kết hôn với anh Th năm 2017, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi kết hôn hai anh chị được tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không bị ai lừa dối, cưỡng ép. Sau khi kết hôn, hai anh chị về chung sống với nhau ở xóm G1, xã P1, huyện P, tỉnh T. Thời gian đầu hai anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, sau đó mâu thuẫn bắt đầu phát sinh, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, mâu thuẫn xảy ra ngày càng trầm trọng, đỉnh điểm là khoảng 01 năm trở lại đây. Xác định cuộc sống hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn, do vậy chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th.

Về con chung: Hai anh chị có 01 con chung là Mai Phương T1, sinh ngày 16/4/2018. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa bị đơn là anh Mai Văn Th trình bày: Anh Th nhất trí với phần trình bày của chị N về thời gian, điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Anh Th xác định trong quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng vẫn hạnh phúc. Mâu thuẫn xảy ra khi chị N xin đi làm ở Bắc Ninh nhưng anh Th không đồng ý, chị N bỏ về nhà bố mẹ để sống từ đó đến nay. Hiện hai chị đang sống ly thân với nhau, anh Th xác định vẫn còn tình cảm với chị N nên có nguyện vọng vợ chồng về đoàn tụ với nhau.

Về con chung: Trường hợp chị N kiên quyết ly hôn, anh Th có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Mai Phương T1, sinh ngày 16/4/2018 sau khi ly hôn và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, hướng các đương sự về đoàn tụ. Tuy nhiên chị N vẫn kiên quyết muốn ly hôn với anh Th và có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; anh Th xác định vẫn còn tình cảm muốn vợ chồng quay về đoàn tụ. Do các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung của vụ án nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai. Tại phiên tòa, các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình như trên.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về trình tự, thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị N được ly hôn anh Mai Văn Th; về con chung: Giao con chung là Mai Phương T1, sinh ngày 16/4/2018 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Th vì chị N không yêu cầu, anh Th được quyền đi lại, thăm nom con chung. Tài sản chung, nợ chung: không có, không xem xét giải quyết; chị N phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung giữa nguyên đơn là chị Triệu Thị N và bị đơn là anh Mai Văn Th (cùng địa chỉ tại xóm G1, xã P1, huyện P, tỉnh T). Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Quan hệ hôn nhân: chị N và anh Th kết hôn với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên vào năm 2017, như vậy hôn nhân giữa chị N và anh Th là hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau về tính cách, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, hai anh chị đang sống ly thân với nhau, quan hệ vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm giữa hai anh chị, tuy nhiên chị N vẫn kiên quyết muốn ly hôn với anh Th. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh Th là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn với anh Th.

Con chung: Hai anh chị có 01 con chung là Mai Phương T1, sinh ngày 16/4/2018, chị N và anh Th đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Xét điều kiện, hoàn cảnh của chị N và anh Th, hai anh chị đều đi làm công nhân, thu nhập ổn định, đảm bảo điều kiện kinh tế để nuôi con. Tại phiên tòa, anh Th đồng ý giao con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, do vậy cần giao con cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý của cháu. Chị N không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Th được quyền đi lại thăm nom con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh Th đều xác nhận là không có tài sản chung, nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên là phù hợp, có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51; 53; 55; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị N, cho chị Triệu Thị N được ly hôn với anh Mai Văn Th.

2. Về con chung: Giao cháu Mai Phương T1, sinh ngày 16/4/2018 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Th do chị N không yêu cầu. Anh Th được quyền đi lại thăm con chung không bị ai cản trở.

3. Án phí: Chị Triệu Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008036 ngày 13/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, bị đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ