- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Võ Thị Mỹ L được ly hôn với ông Đặng Thành C.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2021/HNGĐ-ST Ngày 25 tháng 02 năm 2021 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM – TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thảnh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên
2/ Ông Nguyễn Minh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hùng – Kiểm sát viên
Ngày 25/02/2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 181/2020/TLST- HNGĐ ngày 09/7/2020 về việc “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/01/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02/02/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ L - Sinh năm: 1987; Địa chỉ nơi cư trú: thôn PVT, thị trấn C, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Đặng Thành C - Sinh năm: 1982; Địa chỉ nơi cư trú: thôn TL, xã CPT, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/6/2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ L trình bày:
Về yêu cầu ly hôn: Bà L và ông Đặng Thành C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số 01, ngày 28/5/2014.
Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng về quê lập nghiệp, buôn bán và bị thua lỗ dẫn đến nợ nần; ông C thường xuyên chửi bới, chì chiết và đánh đập bà, đánh đập bà trước mặt bà ngoại và cả bố mẹ bà. Gia đình bà đã góp ý với ông C rất nhiều lần nhưng ông C vẫn không thay đổi. Ông C không động viên, chia sẻ để bà vượt qua khó khăn mà có những lời lẽ khó nghe khiến bà tổn thương. Nợ nần do làm ăn thua lỗ bà cũng tự làm, tự trả chứ ông C không phụ giúp gì bà cả. Bà và ông C sống ly thân từ tháng 7 năm 2019 đến nay, không ai liên lạc với ai. Nay bà không còn tình cảm gì với ông C, vì vậy, Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông C.
Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông Đặng Thành C có 01 con chung là cháu Đặng Thành V, sinh ngày 14/6/2014. Cháu khỏe mạnh, không có nhược điểm về thể chất tinh thần. Sau khi ly hôn Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu V, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản khi ly hôn: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Thành C đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Theo biên bản xác minh ngày 14/8/2020 tại Công an xã CPT, ông Đặng Thành C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn TL, xã CPT, huyện CL và hiện nay đang làm ăn sinh sống tại địa phương.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ L có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Đặng Thành C có hộ khẩu thường trú, làm ăn sinh sống tại thôn TL, xã CPT, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa. Hiện ông C đang có mặt tại địa phương nhưng cố tình trốn tránh không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy, căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là có căn cứ.
Về yêu cầu ly hôn: bà Võ Thị Mỹ L và ông Đặng Thành C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn; được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số 01 ngày 28/5/2014; đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa bà L và ông C phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng về quê lập nghiệp, buôn bán và bị thua lỗ dẫn đến nợ nần; ông C thường xuyên chửi bới, chì chiết và đánh đập bà L. Gia đình bà L đã góp ý với ông C rất nhiều lần nhưng ông C vẫn không thay đổi. Ông C không động viên, chia sẻ để bà L vượt qua khó khăn mà có những lời lẽ khó nghe khiến bà L tổn thương. Nợ nần do làm ăn thua lỗ bà L cũng tự làm, tự trả chứ ông C không phụ giúp gì bà L cả. Bà L và ông C sống ly thân từ tháng 7 năm 2019 đến nay, không ai liên lạc với ai. Bà L xác định không còn tình cảm đối với ông C. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà L được ly hôn với ông Đặng Thành C.
Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông Đặng Thành C có 01 con chung là cháu Đặng Thành V, sinh ngày 14/6/2014. Cháu khỏe mạnh, không có nhược điểm về thể chất tinh thần. Sau khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu V, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Ông Đặng Thành C không đến Tòa làm việc nên không thể hiện ý kiến đồng ý hay phản đối trước yêu cầu của bà L, nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu của bà L là đúng với hoàn cảnh thực tế của các bên, phù hợp với đạo đức xã hội, nên chấp nhận.
Về chia tài sản khi ly hôn: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Thành C vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, sau này nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Võ Thị Mỹ L được ly hôn với ông Đặng Thành C.
2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Đặng Thành V, sinh ngày 14/6/2014 cho bà Võ Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà L không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về chia tài sản khi ly hôn: bà Võ Thị Mỹ L và ông Đặng Thành C được quyền khởi kiện vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
4. Về án phí: bà Võ Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0008284 ngày 07/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm, bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
5. Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Cam Lâm; - Chi cục THADS huyện Cam Lâm; - UBND thị trấn Chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Công Thảnh |