vanban.org

Bản án 10/2021/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 08/07/2021 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của chị A về việc yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi cháu C, sinh ngày 23/4/2020 mỗi tháng 255.

Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị A với anh B. Về con chung: Buộc anh B giao cháu C, sinh ngày 23/4/2020 cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "A-B"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của chị A về việc yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi cháu C, sinh ngày 23/4/2020 mỗi tháng 255.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HNGĐ-PT
Ngày 08 - 7- 2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
và cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Thẩm phán:

Bà Châu Minh Nguyệt

Ông Bùi Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Tín, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2021/TLPT-HNGĐ ngày 31/5/2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn”. Do Bản án sơ thẩm số 20/2021/HNGĐ-ST ngày 06/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện O, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2021/QĐ-PT ngày 17/6/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị A, sinh năm 1989, (có mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện O, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Anh B, sinh năm 1987, (có mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã N, huyện O, tỉnh Bạc Liêu.

3. Người kháng cáo: Anh B, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/02/2021 và lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị A trình bày: Chị và anh B tự nguyện kết hôn năm 2019, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện O, tỉnh Bạc Liêu được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/5/2019. Chị và anh B có 01 con chung, cháu tên C, sinh ngày 23/4/2020, hiện sống cùng với anh B từ tháng 01/2021. Nguyên nhân mâu thuẫn, do chị và anh B bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và anh B ham chơi, cờ bạc, nên chị về nhà cha mẹ ruột sống ly thân khoảng một năm. Chị A yêu cầu được ly hôn với anh B, yêu cầu được trực tiếp nuôi con và anh B phải cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng, tại phiên tòa yêu cầu cấp dưỡng 745.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn anh B xác định: Anh thống nhất với trình bày của chị A về quan hệ hôn nhân, con chung. Anh đồng ý ly hôn với chị A; về con chung, anh không đồng ý giao cháu C, sinh ngày 23/4/2020 cho chị A trực tiếp nuôi, do chị A đã giao cháu cho anh nuôi từ lúc cháu mới 06 tháng tuổi và chị A còn phải nuôi con riêng còn nhỏ mới khoảng 3- 4 tuổi; cháu C đang sống ổn định cùng anh, cháu phát triển bình thường. Anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị A cấp dưỡng; nếu phải giao con cho chị A, không đồng ý cấp dưỡng.

Từ nội dung trên, tại Bản án sơ thẩm số 20/2021/HNGĐ- ST ngày 06/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện O, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của chị A về việc yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi cháu C, sinh ngày 23/4/2020 mỗi tháng 255.000 đồng.

2. Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị A với anh B.

3. Về con chung: Buộc anh B giao cháu C, sinh ngày 23/4/2020 cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Buộc anh B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu C, sinh ngày 23/4/2020 mỗi tháng 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày tuyên án ngày 06/4/2021.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, áp dụng lãi suất trong giai đoạn thi hành án, Luật Thi hành án dân sự và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/4/2021, bị đơn anh B kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử, anh không đồng ý giao con cho chị A nuôi, do chị A đã giao con cho anh nuôi từ lúc 06 tháng và chị A hiện còn phải nuôi một con riêng còn nhỏ; nhà ở ngoài đồng vắng, cha mẹ đi làm xa, có người anh phải ngồi xe lăn ở cùng nhà, là điều kiện nuôi con không đảm bảo.

Tại phiên tòa anh B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu: Về thủ tục tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Xét thấy anh B kháng cáo xin trực tiếp nuôi con, nhưng cháu C, sinh ngày 23/4/2020 tính đến khi xét xử sơ thẩm chưa đủ 36 tháng tuổi, nên cấp sơ thẩm giao cho chị A trực tiếp nuôi là phù hợp theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh B và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe ý kiến đề xuất của Viện kiểm sát, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Hôn nhân giữa chị A và anh B là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị A xin ly hôn, anh B đồng ý ly hôn, cấp sơ thẩm xử công nhận thuận tình ly hôn giữa hai anh chị là có căn cứ.

Chị A và anh B có 01 con chung cháu tên C, sinh ngày 23/4/2020, hiện đang sống cùng anh B. Anh B kháng cáo yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị A phải cấp dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh B xác định, điều kiện anh nuôi con tốt hơn chị A, do chị A còn phải nuôi một con riêng còn nhỏ; nếu sau này cháu lớn và có nguyện vọng sống với chị A thì anh đồng ý giao con cho chị nuôi. Chị A không đồng ý để anh B nuôi con, xác định không an tâm giao con cho anh B nuôi, vì hiện cháu còn rất nhỏ, khi chị thăm con anh B không cho, anh B chăm sóc con không chu đáo và cháu có biểu hiện suy dinh dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, về nghĩa vụ và quyền chăm sóc con:“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…’’. Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Chị A và anh B hiện đều có việc làm, thu nhập ổn định đủ điều kiện, đảm bảo trực tiếp nuôi con.

Tuy nhiên, do cháu C, sinh ngày 23/4/2020 tính đến ngày xét xử sơ thẩm và phúc thẩm chưa đủ 36 tháng tuổi. Mặc dù từ tháng 01/2021 cháu trực tiếp sống với anh B, do chị A đi làm gởi con cho anh B nuôi, nhưng chị A xin ly hôn có nguyện vọng nuôi con, cũng không có căn cứ xác định chị A không đủ điều kiện nuôi con. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử giao con cháu C, sinh ngày 23/4/2020 cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ, cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin trực tiếp nuôi con của anh B, mà cần chấp nhận như đề nghị của Viện kiểm sát giữ nguyên án sơ thẩm là phù hợp.

Tuy nhiên, sau này khi anh B đã giao con cho chị A nuôi, nếu có đầy đủ căn cứ cho rằng chị A trực tiếp nuôi con là không đảm bảo, thì anh B có quyền yêu cầu xin thay đổi nuôi con bằng vụ án khác, theo đúng quy định của pháp luật.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm về hôn nhân và gia đình anh B phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh B và giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 20/2021/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện O, tỉnh Bạc Liêu.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của chị A về việc yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi cháu C, sinh ngày 23/4/2020 mỗi tháng 255.000 đồng.

2. Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị A với anh B.

3. Về con chung: Buộc anh B giao cháu C, sinh ngày 23/4/2020 cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Buộc anh B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu C, sinh ngày 23/4/2020 mỗi tháng 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày tuyên án ngày 06/4/2021.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

6. Về án phí: Buộc chị A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình 300.000 đồng, chị A đã dự nộp án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0003492 ngày 22/02/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện O, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Buộc anh B phải nộp án phí cấp dưỡng không giá ngạch 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện O, tỉnh Bạc Liêu.

Án phí dân sự phúc thẩm về hôn nhân gia đình anh B phải nộp 300.000 đồng, anh B đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0005772 ngày 15/4/2021 tại của Chi cục thi hành án dân sự huyện O, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ