vanban.org

Bản án 10/2021/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 08/07/2021 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính

Căn c Luật T ch c chính quyền địa phương năm 2015 Căn c Điều 62, khoản 2 Điều 66, Điều 69 Luật đất đai năm 2013; Điều 17 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành m t số điều của Luật đất đai; Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Hà Huy Thung yêu cầu hủy QĐ thu hồi đất nông nghiệp,"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2021/HC-ST
Ngày: 08 - 7 - 2021
“V/v Yêu cầu hủy quyết định
thu hồi đất nông nghiệp và khởi
kiện hành vi hành chính”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Anh

Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Đinh Minh Hải

2- Ông Đinh Văn Luận

- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 28/2020/TLST-HC ngày 20/11/2020 về việc: “Yêu cầu hủy quyết định thu hồi đất nông nghiệp và khởi kiện hành vi hành chính”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HC, ngày 29 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Anh Hoàng Huy T, sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh BN. (Có mặt)

* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh BN.

Địa chỉ: Thị trấn H, huyện T, tỉnh BN

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T - Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện T ( Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Uỷ ban nhân dân xã X, huyện T

- Người đại diện: Ông Nguyễn Văn C- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X, huyện T. (Có mặt)

2. Ông Hoàng Huy L1, sinh năm 1954

Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh BN.

3. Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1956

Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh BN.

4. Ông Hoàng Huy T1, sinh năm 1959

Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh BN.

5. Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1962

Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh BN.

6. Bà Hoàng Thị C, sinh năm 1966

Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh BN.

7. Ông Hoàng Huy L2, sinh năm 1970

Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh BN.

8. Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1972

Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh BN.

9. Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh BN.

- Ông L1, bà L, ông T1, bà T, bà C, ông L2, bà B, bà M đều ủy quyền cho anh Hoàng Huy Thung. (Anh Thung có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng người khởi kiện trình bày:

ia đ nh anh có m t mảnh ru ng 340m2 và đ có iấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số P 587637, số vào s cấp CNQSDĐ số: 0903/QSDĐ do Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt:UBND) huyện T cấp ngày 01/10/1999.

Do có dự án xây dựng trường tiểu học trong thôn nên ngày 14/10/1999 UBND x X có mời gia đ nh anh và các h có liên quan đến phần diện tích UBND x s lấy để xây dựng trường tiểu học. Khi mọi người lên, đại diện UBND x đ đưa ra hư ng giải quyết riêng cho gia đ nh anh v i đề nghị đ i 1/2 của ru ng 336m2 (s đỏ là 340m2) lấy ru ng dự trữ là 396m2 thành ru ng n định; c n 1/2 diện tích c n lại s đ i lấy 2 ao: m t ao có diện tích 933m2, m t ao có diện tích 1500m2 và có giá trị sử dụng như đất nông nghiệp đúng v i mục đích sử dụng đất nên anh đ đ i cho UBND x theo biên bản đ i đất làm trường tiểu học thôn D, x X ngày 14/10/1999 và đư c xác nhận lại phần diện tích 2 ao là đất sử dụng n định lâu dài của UBND x giao trong biên bản làm việc ngày 07/08/2013 tại UBND x X, huyện T.

Phần diện tích 2 ao này gia đ nh anh đ canh tác, sản xuất đúng mục đích t khi UBND x giao cho bắt đầu ngay sau khi biên bản thỏa thuận ngày 14/10/1999 có hiệu lực đến nay. Bản thân anh là người dân sử dụng đất, chính quyền giao đất, đ i đất, nói đất là giá trị ngang bằng v i đất anh đ đ i cho x nên anh tin tưởng Chính quyền. Cho đến năm 2013, x X không sử dụng phần đất đ i làm Trường tiểu học nữa, chuyển sang giao bán đất ở khu vực 336m2 đ đ i của anh, anh yêu cầu trả lại đất th vẫn đư c UBND x giải thích chắc chắn như trong Biên bản năm 2013.

Ngày 24/08/2020, UBND huyện T ban hành Quyết định số 1213/QĐ-UBND về việc thu hồi đất nông nghiệp của h ông Hoàng Huy T - thôn D, xã X để thực hiện Dự án ĐTXD đường giao thông t QL.38 qua Trung tâm điều dưỡng thương binh huyện T đi QL.17, huyện T (Đ t 5). Theo đó, trong t ng số 511,1m2 đất bị thu hồi của h gia đ nh anh, trong đó có 343,1m2 đất nông nghiệp thu c quỹ đất công ích của UBND x X tạm thời giao để sử dụng.

Diện tích 511,1m2 đất bị thu hồi của h gia đ nh anh là m t phần của ao có diện tích 933m2 mà gia đ nh anh đ i v i UBND x t năm 1999. Điều bất h p lý là diện tích 511,1m2 đất bị thu hồi liền nhau nhưng UBND huyện T lại chỉ bồi thường 168m2 là đất lâu dài và tự xác định diện tích 343,1m2 là đất tạm giao là không đúng quy định.

Việc UBND huyện T thu hồi lại xác nhận rằng 343,1m2 đất nông nghiệp đ đ i của anh là đất công ích x quản lý nghĩa là là UBND x có dấu hiệu l a lấy đất của dân để giao bán đất ở cho người khác. Nay anh xác định diện tích 343,1m2 đất nông nghiệp của anh bị thu hồi là đất giao lâu dài; việc UBND huyện T cho rằng đây là đất công ích là không đúng pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền l i chính đáng của gia đ nh anh.

Anh cho rằng việc đ i ru ng giữa gia đ nh anh và UBND xã là hoàn toàn minh bạch, tự nguyện giữa các bên, gia đ nh anh đ rất có thiện chí tạo điều kiện cho chính quyền để có đất xây dựng trường học cho các cháu.

Không đồng ý v i quyết định thu hồi đất trên, ngày 31 tháng 08 năm 2020, anh đ làm đơn khiếu nại đến UBND huyện T. Tuy nhiên, khi UBND huyện T chưa giải quyết khiếu nại th ngày 18/09/2020 công an x X đ phối h p và bảo vệ nhà thầu tự ý lấy đất của anh tiến hành thi công trái phép khi anh chưa đư c nhận bất kỳ quyết định cưỡng chế giải phóng mặt bằng nào t UBND huyện T.

Nay anh Hoàng Huy T khởi kiện đề nghị T a án:

1. Hủy m t phần Quyết định số 1213/QĐ-UBND ngày 24/8/2020 của UBND huyện T về việc thu hồi đất công ích diện tích 11,2m2 thu c x đồng Trư c, loại đất LUC, thửa số 2, tờ bản đồ số 6 và 331,9 m2 thu c x đồng Trư c, loại đất NTS thửa số 3, tờ bản đồ số 6.

2. Đề nghị UBND huyện T phải bồi thường cho gia đ nh anh T diện tích đất nông nghiệp sử dụng n định đối v i diện tích 11,2m2 thu c x đồng Trư c, loại đất LUC, thửa số 2, tờ bản đồ số 6 và 331,9 m2 thu c x đồng Trư c, loại đất NTS thửa số 3, tờ bản đồ số 6.

3. Đề nghị T a án Tuyên bố hành vi của chủ đầu tư tự ý san lấp, lấy đất 11,2m2 thu c x đồng Trư c, loại đất LUC, thửa số 2, tờ bản đồ số 6 và 331,9 m2 thu c x đồng Trư c, loại đất NTS thửa số 3, tờ bản đồ số 6 đang có tranh chấp khi chưa có sự đồng ý của gia đ nh anh là trái pháp luật.

* Đại diện UBND huyện T trình bày:

1. Về nguồn gốc sử dụng và quá tr nh sử dụng đất của h anh T:

Năm 1999, UBND xã X tiến hành đ i 336 m2 đất nông nghiệp của h gia đ nh anh Hoàng Huy T thu c x đồng Sau Trại (Đ đư c UBND huyện T cấp iấy ch ng nhận QSD đất ngày 01/10/1999, diện tích 340 m2) sang vị trí khác để xây dựng trường tiểu học của thôn. Cụ thể việc đ i ru ng như sau: Trong t ng diện tích đất ru ng của gia đ nh anh T 336m2 th x đ đ i 168m2 lấy 1 thửa ru ng dự trữ diện tích 396m2 tại Đồng Trong; phần c n lại 168m2 đ i lấy thửa đất ao thu c quản lý của địa phương diện tích 933,5m2 (theo bản đồ trích đo địa chính khu đất số 06 tỷ lệ 1/500 thực hiện dự án ĐTXD đường giao thông t QL17 đi QL38 đoạn qua x X là thửa số 02 và 03). Khi thực hiện dự án ĐTXD đường giao thông QL38 đi QL17 thu hồi 552,1m2 thu c khu đồng Trư c của h gia đ nh anh T.

Căn c tài liệu lưu trữ tại thôn, x , thửa đất số 2, 3 (Theo bản đồ trích đo địa chính phục vụ việc lập hồ sơ thu hồi đất để thực hiện dự án) là đất công ích của UBND x quản lý, đư c thể hiện theo hồ sơ địa chính tại thửa 88, tờ bản đồ số 03 đo đạc địa chính năm 1995 tỷ lệ 1/2000, diện tích 1.512 m2, mục đích sử dụng đất là Đất mặt nư c chuyên dùng (MNC), đối tư ng quản lý: UBND x (UBS).

2. Về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án:

Ngày 17/8/2020, H i đồng bồi thường, hỗ tr và tái định cư dự án phối h p v i BQL các dự án xây dựng huyện (chủ đầu tư), UBND xã X, mời h anh T để thông báo văn bản số 1040/STNMT-CCQLĐĐ ngày 24/7/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND x X đ đối chiếu kiểm tra hồ sơ địa chính đư c lưu tại x , xác minh nguồn gốc, quá tr nh sử dụng đất của h anh T, tại bu i làm việc, UBND x X đề nghị diện tích đư c bồi thường, hỗ tr đất n định, lâu dài của h anh T là 168m2 theo đúng diện tích đ đư c cấp giấy ch ng nhận tại x đồng Sau Trại, diện tích thu hồi c n lại h anh T đư c hỗ tr như quỹ đất công ích tạm giao (thửa 2, diện tích 11,2 m2 và thửa 3, diện tích 331,9m2).

Sau khi công khai phương án bồi thường, hỗ tr trong v ng 20 ngày (t ngày 28/7/2020 đến ngày 18/8/2020), UBND x đ t ch c tuyên truyền, vận đ ng h gia đ nh anh T nhất trí v i phương án đ niêm yết công khai.

Căn c vào n i dung xác minh về nguồn gốc, quá tr nh sử dụng đất của h anh T nêu trên và hư ng dẫn của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh tại văn bản số 1040/STNMT-CCQLĐĐ ngày 24/7/2020. Ngày 24/8/2020 UBND huyện đã ban hành Quyết định số 1213/QĐ-UBND về việc thu hồi đất h anh T và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ tr khi thu hồi đất h anh T tại Quyết định số 1214/QĐ-UBND ngày 24/8/2020 là đúng quy định của pháp luật, đ đảm bảo quyền l i cho gia đ nh anh T. Đến nay gia đ nh anh T vẫn đư c sử dụng đất nông nghiệp giao lâu dài đảm bảo diện tích.

Về thẩm quyền và tr nh tự thủ tục ban hành Quyết định số 1214/QĐ-UBND là đúng quy định tại khoản 2 Điều 66, Điều 69 Luật đất đai; Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành m t số điều của Luật đất đai; Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ tr , tái định cư khi Nhà nư c thu hồi đất.

Việc anh T đề nghị hủy m t phần Quyết định số 1213/QĐ-UBND ngày 24/8/2020 và bồi thường cho gia đ nh h anh T là đất n định đối v i thửa số 2, diện tích 11,2m2 và thửa số 3, diện tích 311,9 m2 thu c x đồng Trư c là không có cơ sở. Đề nghị T a án bác đơn khởi kiện của anh Hoàng Huy T.

* Đại diện UBND xã X trình bày:

Việc đ i ru ng giữa UBND x X và gia đ nh ông Hoàng Huy T xảy ra t thời kỳ trư c. Năm 1999 khi thực hiện xây dựng trường tiểu học th UBND x X đ tiến hành đ i v i gia đ nh anh T 336m2 đất nông nghiệp thu c x đồng Sau Trại (đ đư c UBND huyện cấp CNQSDĐ ngày 01/10/1999, diện tích 340m2) sang vị trí khác.

Cụ thể việc đ i ru ng như sau: Trong t ng diện tích đất ru ng của gia đ nh anh T 336m2 th x đ đ i 168m2 lấy 1 thửa ru ng dự trữ diện tích 396m2 tại Đồng Trong; phần c n lại 168m2 đ i lấy thửa đất ao thu c quản lý của địa phương diện tích 933m2.

Sau khi đ i ru ng, gia đ nh anh T sử dụng đất nhưng cũng không thực hiện việc kê khai cấp CNQSDĐ theo quy định.

Năm 2020, UBND huyện T thực hiện dự án ĐTXD đường giao thông t QL38 qua trung tâm điều dưỡng thương binh huyện T đi QL17 nên đ thu hồi m t phần đất ao mà UBND x X đ đ i năm 1999. Cụ thể, đ thu hồi 552,1m2 tại thửa đất ao đ đ i diện tích 933m2.

Quá trình giải quyết việc thu hồi đất đ xác định: Diện tích đất ao 933m2 này là đất công ích do UBND x quản lý, mục đích sử dụng là đất mặt nư c chuyên dùng. Căn c vào các tài liệu, hồ sơ địa chính tại x th UBND x X đ đề nghị UBND huyện bồi thường cho gia đ nh anh T 168m2 là đất nông nghiệp giao lâu dài đúng theo diện tích đất đ đư c cấp CN năm 1999 và đúng theo diện tích đ đ i năm 1999; đối v i diện tích c n lại 331,9m2 đư c xác định là đất công ích tạm giao.

Đồng thời, năm 2018 x đ t ch c dồn điền đ i thửa để chia lại ru ng cho các h dân. Đối v i gia đ nh anh T có 03 định xuất (gồm anh T, v là Đỗ Thị M và mẹ là Nguyễn Thị T), mỗi định xuất theo tiêu chuẩn đư c chia 674m2 và đư c chia t ng c ng 2529m2; trong đó đ thống nhất chuyển cho gia đ nh anh T 1 thửa ru ng dự trữ diện tích 396m2 tại Đồng Trong (đ đ i năm 1999) thành ru ng n định lâu dài. Như vậy, hiện nay t ng diện tích đất nông nghiệp của gia đ nh anh T vẫn đư c đảm bảo quyền l i, thậm chí đư c chia th a so v i định xuất đư c giao.

Việc thu hồi đất của gia đ nh anh T để thực hiện dự án ĐTXD đường giao thông t QL38 qua trung tâm điều dưỡng thương binh huyện T đi QL17 đ bồi thường cho gia đ nh anh T 168m2 đất nông nghiệp giao lâu dài theo đúng diện tích đ đ i năm 1999 và xác định diện tích c n lại là ru ng công ích là đ đảm bảo quyền l i cho gia đ nh anh T. Đến nay gia đ nh anh T vẫn đư c sử dụng đất nông nghiệp giao lâu dài đảm bảo diện tích.

Nay anh T khởi kiện vụ án hành chính tại T a án đối v i việc thu hồi đất nông nghiệp nêu trên thì UBND xã X đề nghị T a án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Anh Hoàng Huy T giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện; đề nghị phải bồi thường toàn b diện tích đất là đất lâu dài như cam kết của UBND x X, nếu không phải trả lại diện tích đất nông nghiệp gia đ nh anh đ đ i.

Đối v i việc UBND huyện T và nhà thầu lấy đất thi công là không đúng quy định; không thông báo cho gia đ nh anh biết; gia đ nh anh không đồng ý cho họ làm v vấn đề chưa giải quyết xong, gia đ nh anh chưa nhận bồi thường. Tuy nhiên, do thời điểm đó anh cũng đồng t nh v i chính sách làm đường nên cũng có đồng t nh cho nhà thầu lấy đất làm đường và gia đ nh anh còn cho bên thi công mư n thêm đất ao để làm khuôn đường cho xe đi lại.

- Về phía đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện T vắng mặt, song tại phiên t a có ông Nguyễn Văn D, ch c vụ Phó trưởng ph ng tài nguyên, môi trường huyện T là b phận tham mưu, giúp việc về lĩnh vực tài nguyên, môi trường của huyện T đ giải thích thêm về trường h p thu hồi đất và hỗ tr bồi thường thu hồi đất của h ông T dựa trên cơ sở xác định về việc thỏa thuận đ i ru ng vào năm 1999 giữa anh T và UBND xã X không phù h p quy định của pháp luật, UBND x không có quyền thỏa thuận đ i đất nông nghiệp song qua xem xét ý kiến của Sở tài nguyên, môi trường tỉnh, để đảm bảo quyền l i của gia đ nh anh T th UBND huyện T đ thống nhất phần diện tích 168m2 (t c ½ diện tích thửa 336m2 của anh T đ đ i cho UBND x ) lấy thửa ru ng dự trữ 396m2 đư c giữ nguyên và hiện nay đư c nằm trong t ng diện tích 2529m2 đất nông nghiệp n định lâu dài của h anh T; c n phần diện tích đất ao bị thu hồi th chỉ xác định bồi thường theo giá đất n định lâu dài là 168m2 tương ng v i diện tích 168m2 ru ng của h anh Thung đ đ i năm 1999, diện tích c n lại bồi thường theo giá đất tạm giao v là đất công ích của x quản lý.

- Đại diện UBND x X: Diện tích đất ao 933m2 này là đất công ích do UBND x quản lý, mục đích sử dụng là đất mặt nư c chuyên dùng. Năm 2018 x đ t ch c dồn điền đ i thửa để chia lại ru ng cho các h dân. Đối v i gia đ nh anh T có 03 định xuất, mỗi định xuất theo tiêu chuẩn đư c chia 674m2 và đư c chia t ng c ng 2529m2; trong đó đ thống nhất chuyển cho gia đ nh anh T 1 thửa ru ng dự trữ diện tích 396m2 tại Đồng Trong (đ đ i năm 1999) thành ru ng n định lâu dài. Như vậy, hiện nay t ng diện tích đất nông nghiệp của gia đ nh anh T vẫn đư c đảm bảo quyền l i, thậm chí đư c chia th a so v i định xuất đư c giao v vậy đại diện UBND x X đồng quan điểm v i ý kiến của đại diện UBND huyện T.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, H i thẩm nhân dân, Thư ký phiên t a và của các đương sự tham gia tố tụng t khi thụ lý vụ án đến trư c thời điểm H i đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính bác đơn khởi kiện của anh Hoàng Huy T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn c vào các tài liệu, ch ng c đ đư c kiểm tra, xem xét tại phiên t a; căn c vào kết quả tranh tụng tại phiên t a và ý kiến của Kiểm sát viên, H i đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng: Tại phiên t a, ông Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX vẫn tiến hành giải quyết vụ án, xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 158 Luật tố tụng hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 25/10/2020, anh T có đơn khởi kiện đối v i Quyết định số 1213/QĐ-UBND ngày 24/8/2020 của UBND huyện T về việc thu hồi và yêu cầu lập phương án bồi thường, hỗ tr theo loại đất nông nghiệp giao lâu dài. Tại phiên họp kiểm tra việc giao n p, tiếp cận, công khai ch ng c và đối thoại anh T có b sung thêm yêu cầu khởi kiện tuyên bố việc tự ý san lấp lấy đất của UBND huyện T là trái pháp luật. Như vậy, quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án này là “Yêu cầu hủy quyết định thu hồi đất nông nghiệp và khởi kiện hành vi hành chính”. T a án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án là đúng đối tư ng khởi kiện, đúng thẩm quyền cũng như thời hiệu khởi kiện theo quy định tại các Điều 30, 32, 116 Luật tố tụng hành chính.

Xét yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Huy T th thấy:

Xem xét tính h p pháp của Quyết định số 1213/QĐ-UBND ngày 24/8/2020 của UBND huyện T về việc thu hồi đất để thực hiện dự án ĐTXD đường giao thông QL38 đi QL17 và Quyết định số 1214/QĐ-UBND ngày 24/8/2020 của UBND huyện T phê duyệt phương án bồi thường, hỗ tr khi thu hồi đất h anh Hoàng Huy T:

* Về hình thức và thẩm quyền ban hành: Quyết định số 1213 và Quyết định số 1214 của UBND huyện T đư c ban hành theo quy định đúng thẩm quyền, hình th c văn bản theo quy định khoản 2 Điều 66 Luật đất đai và Luật T ch c chính quyền địa phương.

* Về trình tự thủ tục ban hành:

UBND huyện T ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ tr PMB là đúng tr nh tự thủ tục quy định tại Điều 69 Luật đất đai năm 2013; Điều 17 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành m t số điều của Luật đất đai; Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ tr , tái định cư khi Nhà nư c thu hồi đất.

* Xét yêu cầu lập phương án bồi thường hỗ trợ của anh Hoàng Huy T:

Về nguồn gốc đất, quá tr nh giải quyết vụ án và tại phiên t a sơ thẩm, các bên đương sự đều xác định diện tích đất thu hồi của gia đ nh anh T là nguồn gốc là đất ao, năm 1999 UBND xã X tiến hành đ i 336m2 đất nông nghiệp của h gia đ nh anh T thu c x đồng Sau Trại (đ đư c cấp CN) sang khu đất công ích để lấy đất xây dựng trường tiểu học của thôn. Cụ thể giữa UBND xã X và gia đ nh anh T đ thống nhất đ i: Trong t ng diện tích đất ru ng của gia đ nh ông T 336m2 th x đ đ i 168m2 lấy 1 thửa ru ng dự trữ diện tích 396m2 tại Đồng Trong; phần c n lại 168m2 đ i lấy thửa đất ao thu c quản lý của địa phương diện tích 933,5m2 (theo bản đồ trích đo địa chính khu đất số 06 tỷ lệ 1/500 thực hiện dự án ĐTXD đường giao thông t QL17 đi QL38 đoạn qua x X là thửa số 02 và 03).

Quyết định số 1213 và Quyết định số 1214 của UBND huyện T thể hiện h gia đ nh anh Hoàng Huy T bị thu hồi t ng số 511,1m2 đất nông nghiệp thu c x đồng Trư c (là phần đất ao đ đ i v i UBND xã X năm 1999). Trong đó, xác định diện tích 168m2 đư c lập phương án bồi thường, hỗ tr theo giá đất giao lâu dài; đối v i diện tích 11,2 m2 (thửa 02) và diện tích 331,9m2 (thửa 3) đư c lập phương án bồi thường, hỗ tr theo giá đất công ích. Anh T không thắc mắc về diện tích đất thu hồi mà yêu cầu phải xác định diện tích 11,2m2 (thửa 02) và diện tích 331,9m2 (thửa 3) là đất giao lâu dài và yêu cầu lập phương án bồi thường, hỗ tr theo giá đất giao lâu dài.

H i đồng xét xử thấy rằng: Năm 1999 UBND x X thực hiện việc đ i phần đất nông nghiệp của gia đ nh anh T lấy đất công ích của x là không đúng thẩm quyền, không đúng quy định pháp luật. Việc đ i ru ng này chưa đư c sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền, gia đ nh anh T sử dụng đất đ i nhưng cũng không thực hiện việc kê khai cấp iấy ch ng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Do đó, việc đ i đất nêu trên không đư c pháp luật công nhận nên không thể xác định toàn b diện tích đất đ đ i cho gia đ nh anh T là đất nông nghiệp giao lâu dài.

Theo hồ sơ địa chính năm 1995 th diện tích đất ao đ i cho gia đ nh anh T diện tích 1.512m2, mục đích sử dụng đất là Đất mặt nư c chuyên dùng (MNC), đối tư ng quản lý: UBND x (UBS).

Do đó, việc UBND huyện T thu hồi đất và lập phương án bồi thường, hỗ tr cho gia đ nh anh T đư c công nhận 168m2 (đúng theo diện tích đ đ i năm 1999) là đất nông nghiệp giao lâu dài; đối v i diện tích 11,2m2 thu c x đồng Trư c, thửa số 2, tờ bản đồ số 6 và 331,9 m2 thu c x đồng Trư c, thửa số 3, tờ bản đồ số 6 đư c xác định là đất công ích tạm giao là hoàn toàn phù h p quy định pháp luật, đảm bảo quyền l i cho gia đ nh anh T.

Đối v i diện tích đất ao c n lại gia đ nh anh T vẫn tiếp tục sử dụng. Đồng thời, năm 2018 x X đ t ch c dồn điền đ i thửa để chia lại ru ng cho các h dân. Gia đ nh anh T có 03 định xuất (gồm anh T, v là Đỗ Thị M và mẹ là Nguyễn Thị T), mỗi định xuất theo tiêu chuẩn đư c chia 674m2 và đư c chia t ng c ng 2529m2; trong đó đ thống nhất chuyển cho gia đ nh anh T 1 thửa ru ng dự trữ diện tích 396m2 tại Đồng Trong (đ đ i năm 1999) thành ru ng n định lâu dài. Như vậy, hiện nay t ng diện tích đất nông nghiệp của gia đ nh anh T vẫn đư c đảm bảo quyền l i, đư c chia th a so v i định xuất đư c giao.

* Về m c giá bồi thường, hỗ tr đư c phê duyệt theo phương án:

Việc thu hồi đất thực hiện Dự án để thực hiện dự án ĐTXD đường giao thông QL38 đi QL17 thu c trường h p Nhà nư c thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã h i vì l i ích quốc gia, c ng đồng theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 nên giá bồi thường, hỗ tr đư c áp dụng theo quy định của UBND tỉnh Bắc Ninh tại Quyết định 552/2014/QĐ-UBND ngày 28/12/2014 và 528/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014, Cụ thể:

- Đối v i đất giao lâu dài: Đất nông nghiệp nằm trong đê th tiền bồi thường đất nông nghiệp giao lâu dài: 70.000đ/m2; Tiền bồi thường hoa màu trên đất: 9.000 đ/m2; Tiền hỗ tr n định đời sống và sản xuất khi Nhà nư c thu hồi đất: 10.000 đ/m2; Tiền hỗ tr đào tạo, chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm 70.000 đ/m2 x 5 = 350.000 đ/m2. T ng đơn giá bồi thường, hỗ tr là 439.000đ/1m2 đất lâu dài; đối v i 360m2 (1 sào Bắc B ) đất nông nghiệp giao lâu dài là: 158.040.000 đồng.

- Đối v i đất tạm giao: Đơn giá bồi thường là 70.000đ/m2 trong đó: Hỗ tr về ngân sách cấp x (70%) = 49.000đ/m2; Hỗ tr công cải tạo về đất cho h gia đ nh, cá nhân (30%) = 21.000đ/m2; Bồi thường về hoa màu trên đất nông nghiệp: 9000đ/m2.T ng kinh phí bồi thường hỗ tr cho h gia đ nh, cá nhân là 30.000đ/m2.

Như vậy, Quyết định số 1214 xác định m c bồi thường, hỗ tr đối v i gia đ nh anh T là đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, việc anh T khởi kiện yêu cầu lập phương án bồi thường, hỗ tr đối v i diện tích 11,2m2 thu c x đồng Trư c, loại đất LUC, thửa số 2, tờ bản đồ số 6 và 331,9 m2 thu c x đồng Trư c, loại đất NTS thửa số 3, tờ bản đồ số 6 theo m c giá đất giao lâu dài là không có căn c chấp nhận.

Đối v i yêu cầu khởi kiện về hành vi tự ý san lấp lấy đất khi đang có tranh chấp của UBND huyện T:

Hiện nay, gia đ nh anh T vẫn chưa nhận tiền bồi thường, hỗ tr theo phương án đ đư c phê duyệt, số tiền phê duyệt đang đư c gửi giữ tại Kho bạc theo quy định.

Quá tr nh giải quyết vụ án anh T cho biết khi Chủ đầu tư tiến hành thực hiện dự án thì gia đ nh anh ban đầu không đồng ý cho lấy đất làm vì vấn đề chưa giải quyết xong. Tuy nhiên, do gia đ nh anh đồng t nh v i chính sách làm đường nên cũng có đồng ý cho chủ đầu tư lấy đất làm đường và gia đ nh c n cho bên thi công mư n thêm đất ao để làm khuôn đường cho xe đi lại. Như vậy, trong trường h p này UBND huyện T không thực hiện việc t ch c cưỡng chế thu hồi đất mà gia đ nh anh T đ tự nguyện cho chủ đầu tư lấy phần đất ao này để thực hiện dự án. Đến nay dự án đ hoàn thành và đi vào sử dụng n định. Do đó, việc anh T cho rằng hành vi tự ý san lấp lấy đất của UBND huyện T và chủ đầu tư khi chưa có sự đồng ý của gia đ nh anh là không đúng. Yêu cầu khởi kiện này của anh T không đư c chấp nhận.

T những nhận định nêu trên, HĐXX thấy rằng Quyết định thu hồi đất số 1213 và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ tr số: 1214 của UBND huyện T đư c ban hành đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục cũng như n i dung. Do vậy cần bác toàn b yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Huy T.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không đư c chấp nhận nên anh Hoàng Huy T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính

Căn c Luật T ch c chính quyền địa phương năm 2015

Căn c Điều 62, khoản 2 Điều 66, Điều 69 Luật đất đai năm 2013; Điều 17 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành m t số điều của Luật đất đai; Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ tr , tái định cư khi Nhà nư c thu hồi đất.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc h i quy định về m c thu, miễn, giảm án phí và lệ phí T a án;

Tuyên xử:

1. Bác toàn b yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Huy T gồm:

- Bác yêu cầu hủy m t phần Quyết định số 1213/QĐ-UBND ngày 24/8/2020 của UBND huyện T về việc thu hồi đất công ích diện tích 11,2m2 thu c x đồng Trư c, loại đất LUC, thửa số 2, tờ bản đồ số 6 và 331,9 m2 thu c x đồng Trư c, loại đất NTS thửa số 3, tờ bản đồ số 6..

- Bác yêu cầu đề nghị UBND huyện T phải bồi thường cho gia đ nh anh T diện tích đất nông nghiệp sử dụng n định đối v i diện tích 11,2m2 thu c x đồng Trư c, loại đất LUC, thửa số 2, tờ bản đồ số 6 và 331,9 m2 thu c x đồng Trư c, loại đất NTS thửa số 3, tờ bản đồ số 6.

- Bác yêu cầu tuyên bố hành vi của chủ đầu tư tự ý san lấp, lấy đất 11,2m2 thu c x đồng Trư c, loại đất LUC, thửa số 2, tờ bản đồ số 6 và 331,9 m2 thu c x đồng Trư c, loại đất NTS thửa số 3, tờ bản đồ số 6 đang có tranh chấp khi chưa có sự đồng ý của gia đ nh anh T là trái pháp luật.

2- Về án phí: Anh Hoàng Huy T phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm. Xác nhận anh T đ n p đủ số tiền 300.000đ theo Biên lai số 0004708 ngày 17/11/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày đư c tống đạt bản án hoặc kể t ngày bản án đư c niêm yết theo quy định.

T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ