- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BAN AN LY HÔN GIUA CHI K VÀ ANH Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 10/2020/HNGĐ - ST Ngày: 21/07/2020 “V/v: Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƢƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông DƢƠNG VĂN VŨ Các Hội thẩm nhân dân: 01/ Ông NGUYỄN HOÀNG
02/ Bà HOÀNG THỊ XOAN
- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ NGA – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Bà PHAN THỊ LÀNH – Kiểm sát viên. Ngày 21/07/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương – tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 273/2019/TLST – HNGĐ ngày 18/12/2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXX – HNGĐ ngày 12/06/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2020/QĐST – HNGĐ ngày 02/07/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị K, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số nhà 180 – PT – D – Đ – Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Anh Cao Hoàng Đ, sinh năm 1990; Trú tại: Số nhà 289 – LX – Đ– Lâm Đồng.
(Chị Mai Thị K có mặt, anh Cao Hoàng Đ vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/06/2019, bản tự khai ngày 19/07/2019 và lời khai tại phiên tòa – nguyên đơn chị Mai Thị K trình bày: Chị Mai Thị K và anh Cao Hoàng Đ tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LX – Đ và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 77 Quyển số 01/2014 ngày 29/07/2014, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn đôi bên chung sống với nhau tại xã LX – Đ - Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống giữa đôi bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do đôi bên bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp được với nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hằng ngày, từ đó dẫn đến đôi bên có lời qua tiếng lại. Bên cạnh đó anh Cao Hoàng Đ thường xuyên dùng những lời lẽ và hành động xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của chị K, dẫn đến đôi bên phải sống ly thân nhiều năm nay, chị K về nhà mẹ đẻ tại Thị trấn D để sinh sống cho đến nay, từ đó mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa chị Mai Thị K yêu cầu được ly hôn với anh Cao Hoàng Đ.
- Về con chung: Chị Mai Thị K xác nhận trong quá trình chung sống giữa chị và anh Cao Hoàng Đ có 01 con chung là cháu Cao S, sinh ngày 15/05/2016, hiện nay cháu đang sống chung với anh Cao Hoàng Đ. Nguyện vọng của chị Mai Thị K yêu cầu giao con chung cho anh Cao Hoàng Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, chị K không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Mai Thị K xác nhận trong quá trình chung sống giữa chị và anh Cao Hoàng Đ không có tài sản chung và nợ chung nên không đề cập đến.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh Cao Hoàng Đ đều vắng mặt. Đồng thời, vào ngày 12/03/2020, chị Mai Thị K có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải đối với vụ án được.
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn chị Mai Thị K vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Cao Hoàng Đ.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dƣơng:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý cho đến thời điểm xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị K, cho chị Mai Thị K và anh Cao Hoàng Đ được ly hôn với nhau; Về con chung: giao con chung Cao S, sinh ngày 15/05/2016 cho anh Cao Hoàng Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, chị Mai Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của nguyên đơn, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “Xin ly hôn” giữa nguyên đơn chị Mai Thị K và bị đơn anh Cao Hoàng Đ. Anh Cao Hoàng Đ có nơi cư trú tại: Số nhà 289 – LX– Đ – Lâm Đồng, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 3 Điều 36; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Việc bị đơn anh Cao Hoàng Đ vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 của Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015. Vì vậy, theo quy định tại các Điều 227, 228, 273 của Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án và giành quyền kháng cáo vắng mặt cho anh Cao Hoàng Đ là đủ.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị K và anh Cao Hoàng Đ tự nguyện yêu thương, tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LX – Đ vào năm 2014, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77 Quyển số 01/2014 ngày 29/07/2014. Trong quá trình chung sống giữa đôi bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp được với nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hằng ngày, từ đó dẫn đến đôi bên có lời qua tiếng lại. Bên cạnh đó anh Cao Hoàng Đ thường xuyên dùng những lời lẽ và hành động xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của chị Mai Thị K, dẫn đến đôi bên phải sống ly thân nhiều năm nay, chị K về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay, từ đó mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa chị Mai Thị K yêu cầu được ly hôn với anh Cao Hoàng Đ.
Phía anh Cao Hoàng Đ vắng mặt nhưng trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập nhưng anh Hải đều không đến, không hợp tác. Như vậy, có thể thấy anh Cao Hoàng Đ không có thiện chí mong muốn quay về đoàn tụ với chị Mai Thị K.
Tại phiên tòa hôm nay chị Mai Thị K vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh Cao Hoàng Đ. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa đôi bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu có níu kéo để hai bên về chung sống lại cũng không hạnh phúc. Nên cho hai bên được ly hôn là phù hợp với thực tế và phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Tại phiên tòa hôm nay, chị Mai Thị K vẫn giữ nguyên yêu cầu giao con chung Cao S, sinh ngày 15/05/2016 cho anh Cao Hoàng Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, chị Mai Thị K không cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Mai Thị K xác nhận từ khi chị Mai Thị K và anh Cao Hoàng Đ sống ly thân cho đến nay thì con chung do anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị K cũng không thường xuyên đến thăm nom hay cấp đưỡng để nuôi con. Bên cạnh đó, hiện nay thu nhập và điều kiện sống của chị K không thể đảm bảo để nuôi con và chăm sóc con tốt về mọi mặt.
Để ổn định cuộc sống của cháu, đảm bảo cho cháu phát triển về mặt tâm sinh lý cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao con chung Cao S cho anh Cao Hoàng Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, chị Mai Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa hôm nay chị Mai Thị K vẫn giữ nguyên ý kiến xác nhận trong quá trình chung sống giữa đôi bên không có tài sản chung và nợ chung nên không đề cập đến.
Về án phí: Chị Mai Thị K phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật. Anh Cao Hoàng Đ không phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 3 Điều 36; Khoản 1 Điều 39; Các Điều 175, 177, 179, 219, 220, 227, 228, 235, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị K.
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Mai Thị K và anh Cao Hoàng Đ.
Về con chung: Giao con chung Cao Hoàng Phúc, sinh ngày 15/05/2016 cho anh Cao Hoàng Đ được trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Mai Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Buộc chị Mai Thị K phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, căn cứ vào Biên lai thu tiền số 0016051 ngày 18/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương, chị Mai Thị K đã nộp đủ. Anh Cao Hoàng Đ không phải chịu tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2014”.
| Nơi nhận: - TAT; - VKS; - THA; - Các ĐS; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Văn Vũ |