vanban.org

Bản án 10/2020/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV T đối với Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H.

Buộc Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải trả cho Công ty TNHH MTV T số tiền là 269.613.803đ ( Hai trăm sáu mươi chín triệu sáu trăm mười ba ngàn tám trăm lẻ ba đồng), trong đó tiền gốc là 228.486.085đ và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/06/2018 đến ngày 01/05/2020 với số tiền là 41.127.495đ. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV T đối với Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV T đối với Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H.
  • Căn cứ chính? Điều 24 Luật thương mại; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 306 Luật thương mại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/KDTM- ST
Ngày 15 - 06 – 2020
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU- THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Ba

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Văn Sanh

- Ông Huỳnh Tiễn

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Vui

Ngày 15 tháng 06 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiến hành công khai xét xử vụ án dân sự thụ lý số 79/2019/TLST - KDTM ngày 23 tháng 12 năm 2019 về việc “ Tranh chấp hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐST – KDTM ngày 24 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV T - Địa chỉ: Số 42 đường B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Giám đốc – Địa chỉ: Số 42 đường B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

* Bị đơn: Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H – Địa chỉ: Số 124 C, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Văn A – Chức vụ: Giám đốc: Địa chỉ: Số 124 C, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/12/2019, tại bản trình bày và tại phiên tòa ông Nguyễn Thanh T đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV T trình bày:

Ngày 20/7/2017 giữa Công ty TNHH MTV T và Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H ký hợp đồng số 20/7/HĐKT/TTP-XDHA về việc mua bán thép xây dựng với số lượng theo từng đơn đặt hàng cụ thể, thời gian giao hàng là mỗi lần nhận hàng Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải gửi đơn đặt hàng cho Công ty TNHH MTV T trước 03 (ba) ngày, thời hạn thanh toán là 15 ngày kể từ ngày Công ty TNHH MTV T lập biên bản giao nhận hàng cho Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H. Kể từ ngày 16 trở đi mà Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H không thanh toán thì phải chịu lãi vay theo lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng tại thời điểm thanh toán nhưng không quá 05 ngày. Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này, trước hết các bên thương lượng giải quyết. Nếu thương lượng không đạt kết quả thì tranh chấp sẽ được Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng giải quyết.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ngày 26/07/2017 Công ty TNHH MTV Trường Thành P đã thực hiện giao cho Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H lô hàng có tổng giá trị là 478.486.085đ nhưng đến 25/09/2017 Công ty TNHH T mới xuất hóa đơn số 0000293 với số tiền là 478.486.085đ cho Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H.

Sau khi xuất hóa đơn cho Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H đến ngày 01/10/2017 tại Văn phòng Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H hai bên Công ty đã lập biên bản đối chiếu công nợ mua bán đến ngày 30/09/2017, theo biên bản thì Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H còn nợ Công ty TNHH MTV Trường T số tiền là 478.486.085đ.

Sau khi có biên bản đối chiếu công nợ, Công ty TNHH MTV T đã nhiều lần làm văn bản, cũng như gọi điện thoại hoặc đến trực tiếp yêu cầu Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H thanh toán số tiền nợ theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 01/10/2017. Tính đến ngày 14/05/2018 Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H chỉ thanh toán được số tiền 250.000.000đ, từ đó đến nay Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H không thanh toán thêm nữa.

Ngày 26/06/2019 Trung tâm hòa giải – Đối thoại tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã tiến hành lập biên bản hòa giải thành ông Lê Ngọc H – chức vụ Kế toán trưởng Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H xác nhận còn nợ Công ty TNHH MTV T số tiền 228.486.085đ và cam kết sẽ thanh toán dứt điểm số nợ trên từ ngày 01/07/2019 đến ngày 30/09/2019. Nhưng tại buổi hòa giải ông Lê Ngọc H chưa được giám đốc Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H ủy quyền tham gia hòa giải nên Tòa án nhân dân quận Hải Châu không thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận.

Vì Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H đã cố tình dây dưa không thanh toán nợ, nên Công ty TNHH MTV T đã khởi kiện Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo như hợp đồng đã ký kết và đề nghị Tòa án buộc Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H thanh toán tiền nợ gốc với số tiền là 228.486.085đ và tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán với mức lãi suất 9%/năm của Ngân hàng Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng, thời gian tính lãi kể từ ngày 01/06/2018 đế ngày 01/05/2020 là 24 tháng với số tiền là 228.486.085 x 9%/năm x 24 tháng = 41.127.495đ, tổng cộng gốc và lãi là 269.613.803đ ( Hai trăm sáu mươi chín triệu bốn trăm tám mươi sáu ngàn không trăm tám mươi lăm đồng).

Sau ngày 01/05/2020 Công ty TNHH MTV T không yêu cầu Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải thanh toán tiền lãi.

( Mức lãi suất 9%/năm mà Công ty TNHH MTV T yêu cầu Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải trả được tính theo mức lãi mà Ngân hàng Vietinbank đã áp dụng cho Công ty TNHH MTV T vay vào ngày 06 tháng 01 năm 2020).

Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập và các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H nhưng Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H không có văn bản phản hồi cũng như vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải cho các bên đương sự.

Tại phiên tòa lần thứ hai Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp về hợp đồng số 20/7/HĐKT/TTP-XDHA ngày 20/07/2017 về việc mua bán thép xây dựng giữa Công ty TNHH MTV T và Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo khoản 1 Điều 30, Điều 35 và Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cũng như quyết định hoãn phiên tòa cho Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H, nhưng tại phiên tòa lần hai Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H vẫn vặng mặt không có lý do. Nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung:

A/ Về hình thức hợp đồng: Hợp đồng số 20/7/HĐKT/TTP-XDHA ngày 20/07/2017 về việc mua bán thép xây dựng giữa Công ty TNHH MTV T và Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H mà các bên đã ký kết đã tuân thủ đúng về điều kiện và hình thức hợp đồng theo quy định của các Điều 385, Điều 398 và Điều 401 của Bộ luật Dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên đã tham gia ký kết hợp đồng.

B/ Về nội dung hợp đồng:

Theo hợp đồng số 20/7/HĐKT/TTP-XDHA ngày 20/07/2017 về việc mua bán thép xây dựng giữa Công ty TNHH MTV T và Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H thì Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải thanh toán trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Công ty TNHH MTV T lập biên bản giao nhận hàng cho Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H.

Kể từ ngày 16 trở đi mà Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H không thanh toán thì phải chịu lãi vay theo lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng tại thời điểm thanh toán nhưng không quá 05 ngày.

Ngày 01/10/2017 Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H và Công ty TNHH MTV T đã lập biên bản đối chiếu công nợ mua bán đến ngày 30/09/2017, thì Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H còn nợ Công ty TNHH MTV T số tiền là 478.486.085đ, tính đến ngày 14/05/2018 Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H đã thanh toán được số tiền là 250.000.000đ.

Xét yêu cầu của Công ty TNHH MTV T buộc Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H thanh toán nợ với số tiền là 269.613.803đ ( Hai trăm sáu mươi chín triệu sáu trăm mười ba ngàn tám trăm lẻ ba đồng) trong đó tiền gốc là 228.486.085đ và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/06/2018 cho đến ngày 01/05/2020 là 24 tháng với mức lãi suất 9%/năm của Ngân hàng Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng, với số tiền là 41.127.495đ thì thấy:

+ Đối với số tiền gốc 228.486.085đ ( Hai trăm hai mươi tám triệu bốn trăm tám mươi sáu ngàn không trăm tám mươi lăm đồng):

Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 01/10/2017 giữa Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H và Công ty TNHH MTV T thì Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H còn nợ Công ty TNHH MTV T số tiền là 478.486.085đ, từ ngày 25/09/2017 đến ngày 14/05/2018 Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H trả số tiền là 250.000.000đ. Sau ngày 14/05/2018 đến khi Tòa án thụ lý giải quyết Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H không cung cấp tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho việc trả nợ.

Nên, Công ty TNHH MTV T không có nghĩa vụ phải chứng minh các tình tiết, sự kiện mà Công ty đã đưa ra cho yêu cầu khởi kiện đối với Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H theo quy định Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Do vậy, yêu cầu buộc Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải trả cho Công ty TNHH MTV T số tiền gốc là 228.486.085đ ( Hai trăm hai mươi tám triệu bốn trăm tám mươi sáu ngàn không trăm tám mươi lăm đồng) là có cơ sở theo quy định tại các Điều 24 Điều 50, Điều 55 Luật thương mại.

+ Về yêu cầu tính lãi phát sinh tính từ ngày 01/06/2018 cho đến ngày 01/05/2020 là 24 tháng với mức lãi suất 9%/năm của Ngân hàng Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng, với số tiền là 41.127.495đ, sau ngày 01/05/2020 Công ty TNHH MTV T không yêu cầu Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải trả tiền lãi. HĐXX thấy:

Theo khoản 3 Điều 3 hợp đồng số 20/7/HĐKT/TTP-XDHA ngày 20/07/2017 quy định về phương thức thanh toán thì thời hạn thanh toán là 15 ngày kể từ ngày Công ty TNHH MTV T lập biên bản giao nhận hàng cho Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H. Kể từ ngày 16 trở đi mà Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H không thanh toán thì phải chịu lãi vay theo lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng tại thời điểm thanh toán nhưng không quá 05 ngày. Từ ngày 15/05/2018 đến nay Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H còn nợ số tiền gốc là 228.486.085đ nên Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH MTV T về việc buộc Công ty THNN MTV xây dựng dịch vụ H phải thanh toán tiền lãi tính từ ngày 01/06/2018 cho đến ngày 01/05/2020 là 24 tháng theo mức lãi suất 9%/năm của Ngân hàng Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng, với số tiền là 41.127.495đ là có cơ sở theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại.

Sau ngày 01/05/2020 Công ty TNHH MTV T không yêu cầu Công ty THNN MTV xây dựng dịch vụ H phải thanh toán tiền lãi, nên HĐXX không đề cập đến.

Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền là 269.613.803đ ( Hai trăm sáu mươi chín triệu sáu trăm mười ba ngàn tám trăm lẻ ba đồng) nên bị đơn là Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền cụ thể là 269.613.803 x 5% = 13.480.690đ.

Vì các lẽ trên quyết định.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 24, Điều 50, Điều 55 và Điều 306 Luật thương mại.

- Áp dụng Điều 227, Điều 235 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV T đối với Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H.

Buộc Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải trả cho Công ty TNHH MTV T số tiền là 269.613.803đ ( Hai trăm sáu mươi chín triệu sáu trăm mười ba ngàn tám trăm lẻ ba đồng), trong đó tiền gốc là 228.486.085đ và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/06/2018 đến ngày 01/05/2020 với số tiền là 41.127.495đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành, thì phải trả lãi theo mức lãi suất thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

Sau ngày 01/05/2020 Công ty TNHH MTV T không yêu cầu Công ty THNN MTV xây dựng dịch vụ H phải thanh toán tiền lãi, nên HĐXX không đề cập đến.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH MTV xây dựng dịch vụ H phải chịu là 13.480.690.

Hoàn trả lại cho Công ty TNHH MTV T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.740.400đ theo biên lai thu số 0008727 ngày 23/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu

Án xử công khai nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận dược bản án hoặc niêm yết trích sao bản án

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ