- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/KDTM-ST Ngày: 01/9/2020 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Ngọc Liêm.
2. Bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang.
Ngày 01 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2020/TLST-KDTM ngày 05 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 406/2020/QĐXXST-KDTM ngày 04 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank).
Địa chỉ: Số 89 Láng Hạ, phường LH, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Ngô Chí Dũng. Là người đại diện theo pháp luật của VPBank (Chủ tịch Hội đồng quản trị VPBank); vắng mặt.
- Ông Đỗ Thành Trung – Phó Giám đốc khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ, VPBank hội sở. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02 tháng 3 năm 2018 của Chủ tịch Hội đồng quản trị VPBank); vắng mặt.
- Ông Nguyễn Huỳnh Hữu Tín – Chuyên viên xử lý nợ. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 9345/2020/UQ-PGĐ ngày 14/02/2020); vắng mặt.
- Ông Lý Thanh Việt – Chuyên viên XLN KHDN MN. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 9345/2020/UQ-PGĐ ngày 14/02/2020); vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tuấn Vũ – Chuyên viên XLN KHDN MN. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 35261/2020/UQ-P.GĐ ngày 08/6/2020); có mặt.
- Ông Nguyễn Hữu Minh – Chuyên viên XLN KHDN MN. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 45402/2020/UQ-PGĐ ngày 18/8/2020); có mặt. 2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn TP CM. Địa chỉ: Ấp Phú Thượng II, xã KA, huyện CM, tỉnh An Giang. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 2/3 Nguyễn Trường Tộ, phường BK, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc công ty); vắng mặt. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 3.1. Ông Trần Văn S, sinh năm 1973; vắng mặt. Địa chỉ: Số 2/3 Nguyễn Trường Tộ, phường BK, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. 3.2. Bà Nguyễn Thị Hoa S, sinh năm 1981; vắng mặt. Địa chỉ: Ấp Hòa Trung, xã KA, huyện CM, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2020 của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng, quá trình Tòa án giải quyết và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của VPBbank là ông Nguyễn Tuấn Vũ và ông Nguyễn Hữu Minh trình bày: Vào ngày 04/12/2018, VPBank có cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn TP CM (Công ty TP) vay vốn theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: SME/AGG/18/0095/HDHMTC. Theo đó, Công ty TP được VPBank cho mở tài khoản thấu chi số 169265844; thời hạn duy trì hạn mức thấu chi là 12 tháng, Công ty TP có thể được rút vốn nhiều lần tại mọi thời điểm; mức lãi suất trong hạn tại thời điểm ký hợp đồng là 17,6%/năm, quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh lúa gạo, nếp. Đảm bảo khoản vay trên, Giám đốc Công ty TP là ông Trần Văn S cùng thành viên góp vốn là bà Nguyễn Thị Hoa S có ký kết với VPBank hai Hợp đồng bảo lãnh lần
lượt
có
số
là
SME/AGG/18/0095/HDBL.01
và SME/AGG/18/0095/HDBL.02 cùng ngày 04/12/2018 đều có nội dung dùng toàn bộ tài sản cá nhân của ông S và bà Hoa S để bảo lãnh vô điều kiện, không hủy ngang đối với khoản vay của Công ty TP. Su khi vay, Công ty TP đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ mặc cho VPBank nhiều lần nhắc nhở nhưng vẫn cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do đó, ngày 14/02/2020, VPBank có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TP phải trả dứt điểm số tiền vay vốn gốc là 1.624.541.910 đồng và lãi tính đến ngày 05/02/2020 là 257.327.438 đồng; yêu cầu Công ty TP tiếp tục trả lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ; Trường hợp công ty TP không thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì yêu cầu ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị Hoa S phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký.
Tại phiên Tòa, người đại diện hợp pháp của VPBank ngoài việc tiếp tục giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của VPBank thì còn có bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TP phải trả thêm số tiền lãi phát sinh tính từ ngày 06/02/2020 đến hết ngày 18/8/2020 là 530.061.884 đồng.
Bị đơn Công ty TNHH TP CM với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị Hoa S đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đã được Tòa án triệu tập đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai, triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Su khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: VPBank khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH TP CM phải có nghĩa vụ thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng mà đôi bên đã ký kết nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Công ty TP với tư cách là bị đơn trong vụ án có địa chỉ trụ sở chính tại ấp Phú Thượng 2, xã KA, huyện CM, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang.
Bị đơn là Công ty TP với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị Hoa S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự này là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Vào ngày 04/12/2018, Công ty TNHH TP CM đã ký kết với VPBank Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: SME/AGG/18/0095/HDHMTC. Để bảo đảm nợ vay, Giám đốc Công ty TP là ông Trần Văn S cùng thành viên góp vốn là bà Nguyễn Thị Hoa S có ký kết với VPBank hai Hợp đồng bảo lãnh lần lượt có số là SME/AGG/18/0095/HDBL.01 và SME/AGG/18/0095/HDBL.02 cùng ngày 04/12/2018 đều có nội dung dùng toàn bộ tài sản cá nhân của ông S và bà Hoa S để bảo lãnh vô điều kiện, không hủy ngang đối với khoản vay của Công ty TP. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TP không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên VPBank khởi kiện yêu cầu Công ty TP có trách nhiệm trả số tiền còn nợ tính đến ngày 18/8/2020 là 2.411.931.232 đồng, trong đó vốn gốc là 1.624.541.910 đồng và lãi phát sinh là 787.389.322 đồng. Công ty TP, ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị Hoa S đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, theo các Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: SME/AGG/18/0095/HDHMTC ngày 04/12/2018; Hợp đồng bảo lãnh số SME/AGG/18/0095/HDBL.01 ngày 04/12/2018 và Hợp đồng bảo lãnh số SME/AGG/18/0095/HDBL.02 ngày 04/12/2018 được các bên ký và ghi họ tên đóng dấu xác nhận, cho thấy hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 335; Điều 336; Điều 338 và Điều 463 của Bộ luật Dân sự 2015; vì vậy, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng các thỏa thuận theo các hợp đồng đã ký kết. Do đó, việc Su khi vay Công ty TP không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên VPBank có quyền khởi kiện yêu cầu Công ty TP phải thanh toán nợ và ông S, bà Hoa phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là hoàn toàn có cơ sở nên được Tòa án chấp nhận toàn bộ. [3] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Tòa án thì: Yêu cầu khởi kiện của VPBank được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả cho VPBank số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 34.228.000 đồng (Ba mươi bốn triệu hai trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008275 ngày 29/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang. Công ty Trách nhiệm hữu hạn TP CM phải chịu án phí kinh doanh thương sơ thẩm giá ngạch là: 80.238.625 đồng làm tròn 80.239.000 đồng (Tám mươi triệu hai trăm ba mươi chín nghìn đồng). Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 335, Điều 336, Điều 338, Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank). Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn TP CM phải có nghĩa vụ thanh toán cho VPBank số tiền vay vốn gốc và lãi tính đến ngày 18/8/2020 theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: SME/AGG/18/0095/HDHMTC ngày 04/12/2018 tổng cộng là 2.411.931.232 đồng (Hai tỷ bốn trăm mười một triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi hai đồng). Trong đó: Vốn gốc là 1.624.541.910 đồng, Lãi là 787.386.322 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 18/8/2020, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp Công ty TNHH TP CM không thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì VPBank có quyền yêu cầu ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị Hoa S cùng liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty TNHH TP CM.
2. Án phí: VPBank không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 34.228.000 đồng (Ba mươi bốn triệu hai trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008275 ngày 29/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang. Công ty TNHH TP CM phải chịu án phí kinh doanh thương sơ thẩm giá ngạch là 80.239.000 đồng (Tám mươi triệu hai trăm ba mươi chín nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh AG; - VKSND Tp. Chợ Mới; - Chi cục THA KDTM Tp. Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu VT và hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Nghĩa |