vanban.org

Bản án 10/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Thái Hòa, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo N.T.L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Xử phạt N.T.L 18(Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo N.T.L phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo N T L Phạm tội trộm cắ tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo N.T.L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Xử phạt N.T.L 18(Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THÁI HÒA
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10 /2020/HSST
Ngày: 24/03/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Nhật

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Chí Công

2. Bà: Phan Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị An- Thư ký tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Văn Thái- Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 24/03/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2020/HSST ngày 09/03/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10 ngày 12 tháng 03 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: N.T.L; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam . Sinh ngày: 05/03/1998; Tại huyện Đ.L, tỉnh Nghệ An. Đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm 8, xã T.S, huyện Đ.L, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: N.T.B- sinh năm: 1973; Nghề nghiệp: Làm mộc; Con bà: D.T.L- sinh năm: 1975; Nghề nghiệp: Nông Nghiệp. Đều trú tại: Xóm 8, xã T.S, huyện Đ.L, tỉnh Nghệ An. Gia đình có 02 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: L.T.C- Sinh năm 2001; Nghề nghiệp: Nông nghiệp. Trú tại: xóm 8, xã T.S, huyện Đ.L, tỉnh Nghệ An. Con: Có 1 con; Sinh năm: 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2020 đến ngày 18/02/2020, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Hiện tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. + Người bị hại: Anh P.Đ.N –Sinh năm 1995 Trú tại: Xóm S.V, xã K.T, huyện Y.T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt(Có đơn xin xử vắng mặt). + Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh N.T.B- sinh năm 1987 Trú tại: Xóm 8, xã T.S, huyện Đ.L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/01/2020, N.T.L đang ở nhà tại Xóm 8, xã T.S, huyện Đ.L, tỉnh Nghệ An thì có N.N.M (trú tại Xóm 8, xã T.S, huyện Đ.L, tỉnh Nghệ An) đến và rủ N.T.L đi lên Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Bắc Nghệ An ( đóng tại thị xã Thái Hòa) để thăm vợ M đang điều trị tại đó. Lúc này N.T.L đã nảy sinh ý định lên khu vực thị xã Thái Hòa để trộm cắp tài sản ( xe máy) để bán lấy tiền tiêu xài nên đã đồng ý đi với M. Trước khi đi N.T.L đã chuẩn bị một chiếc vam phá khóa dài khoảng 10cm, một đầu được mài dẹt để làm công cụ trộm cắp tài sản. Sau đó cả hai sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 37D1-92833 của anh N.T.B ( trú tại xóm 8, xã T.S, huyện Đ.L, tỉnh Nghệ An) mà N.T.L đã mượn trước đó đi lên Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây bắc Nghệ An. Khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi thăm vợ của N.N.M xong, N.T.L và N.N.M ra về. Khi đi đến khu vực cổng bệnh viện, vì không muốn cho N.N.M biết ý định đi trộm cắp xe máy của mình nên N.T.L nói dối với N.N.M là chở L đến nhà gì của L ở khu vực khối Tân Phú, phường Hòa Hiếu, thị xã Thái Hòa. Khi đi đến khu vực ngân hàng BIDV chi nhánh Phủ Quỳ thuộc khối Tân Phú, phường Hòa Hiếu, thị xã Thái Hòa thì N.T.L xuống xe và nói với N.N.M đi về trước còn N.T.L sẽ đi về sau. Sau khi N.N.M đi về thì N.T.L một mình đi bộ dọc theo quốc lộ 48 để tìm xem có chiếc xe máy nào sơ hở để thực hiện hành vi trộm cắp. Khi đến khu vực trước cổng Quỹ tín dụng nhân dân thị xã Thái Hòa thuộc khối Tân Phú, phường Hòa Hiếu, thị xã Thái Hòa, N.T.L phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA-EXCITER, màu đen, BKS: 37P1-60020 của anh P.Đ.N ( trú tại xóm S.V, xã K.T, huyện Y.T, tỉnh Nghệ An) đang dựng ở đó. Quan sát xung quanh không thấy ai, N.T.L lén lút dùng vam phá khóa ( đã chuẩn bị từ trước) phá khóa và lấy trộm chiếc xe máy trên rồi điều khiển xe máy chạy về hướng đường mòn Hồ Chí Minh để đi về nhà. Trên đường đi về N.T.L dừng xe lại phá khóa cốp xe máy để đổ xăng. Khi đi đến khu vực hẻo lánh ( L không nhớ rõ) N.T.L dừng xe, tháo biển số xe (37P1-60020) ra khỏi xe rồi tiếp tục điều khiển xe máy đi về nhà. Khi đi đến khu vực cầu Rạng thuộc xã Thanh Hưng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, N.T.L ném chiếc biển số xe cùng chiếc vam phá khóa xuống dòng sông Lam và tiếp tục điều khiển chiếc xe máy vừa trộm cắp được về nhà cất dấu. Đến khoảng 17 giờ ngày 03/01/2020, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật sẽ bị phát hiện nên N.T.L đến cơ quan CSĐT công an thị xã Thái Hòa đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KLĐG ngày 08/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Thái Hòa xác định:

-01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA-EXCITER, màu đen, BKS: 37P1-60020 của anh P.Đ.N bị N.T.L chiếm đoạt có trị giá 30.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 09/03/2020 của VKSND thị xã Thái Hòa đã truy tố: N.T.L về tội " Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 BLHS xử phạt: N.T.L từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Thái Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người liên quan không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, người liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo N.T.L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với biên bản về việc người phạm tội ra đầu thú, lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, kết quả định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Như vậy có đủ căn cứ để khẳng định:

Vào khoảng 18 giờ ngày 02/01/2020, tại khu vực trước cổng Quỹ tín dụng nhân dân thị xã Thái Hòa thuộc khối Tân Phú, phường Hòa Hiếu, thị xã Thái Hòa, lợi dụng sơ hở của anh P.Đ.N trú tại xóm S.V, xã K.T, huyện Y.T, tỉnh Nghệ An dựng chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA-EXCITER, màu đen, BKS: 37P1-60020 không có ai trông coi, N.T.L đã lén lút dùng vam phá khóa chiếm đoạt chiếc xe máy của anh N trị giá 30.000.000 đồng. Hành vi của N.T.L đã phạm tội " Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.

Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe, có nhận thức pháp luật đầy đủ nhưng vì nhất thời hám lợi mà lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật để giáo dục riêng bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra cơ quan công an đầu thú, giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt do đó cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định pháp luật. Xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm. Đồng thời thể hiện tính nhân đạo, giáo dục và tính khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho anh P.Đ.N, anh N không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm về mặt dân sự. Toà miễn xét.

Đối với loại tội phạm này theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng xét bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú và giao nộp tài sản chiếm đoạt chưa có thu lợi bất chính gì nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan CSĐT công an thị xã Thái Hòa đã thu giữ: - 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA-EXCITER, màu đen, BKS: 37P1-60020. Quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe máy của anh P.Đ.N bị N.T.L chiếm đoạt. Ngày 11/02/2020, cơ quan CSĐT công an thị xã Thái Hòa đã tiến hành trao trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

-01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA-MX KING, màu đỏ, BKS: 37D1-92833. Quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe máy của anh N.T.B cho N.T.L mượn để làm phương tiện đi lại. Quá trình cho mượn anh N.T.B hoàn toàn không biết việc N.T.L đã sử dụng chiếc xe máy của anh vào mục đích phạm tội. Ngày 11/02/2020, cơ quan CSĐT công an thị xã Thái Hòa đã tiến hành trao trả lại cho chủ sở hữu anh N.T.B là đúng quy định pháp luật.

- Đối với chiếc vam phá khóa và chiếc biển số xe (37P1-60020). Theo lời khai của N.T.L trên đường đi về nhà đã vứt xuống sông Lam thuộc địa phận xã Thanh Hưng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Cơ quan CSĐT công an thị xã Thái Hòa đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

Đối với N.N.M là người chở N.T.L lên Thị xã Thái Hòa nhưng theo lời khai của L thì M không biết ý định cũng như việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; Mặt khác quả trình điều tra M không có mặt tại địa phương nên chưa đủ cơ sở để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo N.T.L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Xử phạt N.T.L 18(Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo N.T.L cho UBND xã T.S, huyện Đ.L, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo N.T.L phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Cỡ chữ