vanban.org

Bản án 10/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 22/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn T phải trả lại cho anh BCEKER CYRILLE thông qua người ủy quyền là chị Đinh Lệ D số tiền: 500 USD (tương đương 500 USD x 23.160 VND/01USD = 11.580.000 đồng và 300.000 đồng. Tổng cộng là 11.880.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T phạm tộ Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 04 (bốn) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 10/2020/HS-ST
Ngày 22 - 5 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Đức Hiệp

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Tuyển

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên toà: Bà Ninh Thị Thanh Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Đặng Cao Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2020/TLST- HS ngày 26 tháng 03 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:09/2020 QĐXXST – HS ngày 08 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1998, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 và bà: Cao Thị S; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2019 đến ngày 06/8/2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt.

2. Những người tham gia tố tụng:

- Bị hại: Anh BCEKER CYRILLE, sinh năm 1974 Quốc tịch Pháp, ủy quyền cho chị Đinh Lệ D, sinh năm 1994 - là người phiên dịch và nhân viên tại Khách sạn Tam Cốc-Garden, địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1971;

2. Cao Thị S, sinh năm 1969;

Đều cư trú thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Ông T1 và bà S có mặt.

- Người làm chứng: Anh Lê Xuân H; Anh Cao Văn Đ (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 29/7/2019, Lê Văn T mặc áo chống nắng kẻ karô màu đen, đỏ, trắng, mặc quần bò màu xanh, đi giầy đen, đầu đội mũ bảo hiểm có hàm, đeo Balô màu xanh tím, điều khiển xe môtô Honda Winner BKS 36C1-37489 đi từ nhà ở Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ra khu du lịch Hang Múa thuộc xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình nhằm mục đích cướp giật tài sản của khách Du lịch, trên đường đi T đã dùng Càlê tháo biển kiểm soát của xe bỏ vào trong Balô để tránh bị phát hiện. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, T đi đến đầu đường rẽ vào Khu du lịch Hang Múa thì dừng lại quan sát, thấy anh BCEKER CYRILLE sinh năm 1974 Quốc tịch Pháp đang đạp xe đạp chở theo con nhỏ đi theo hướng từ xã N về xã N, T đợi khi anh BCEKER CYRILLE đi đến địa phận thôn K, xã N thì T đi xe mô tô từ phía sau lên áp sát vào phía bên trái xe đạp của anh BCEKER CYRILLE, đồng thời dùng tay phải giật chiếc Balô nhãn hiệu Quechua của anh BCEKER CYRILLE đang để ở giỏ xe trước ghi đông xe đạp sau đó tăng ga bỏ chạy, đi đến cầu Sông Vó thuộc địa phận xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình thì T dừng xe lắp Biển kiểm soát của xe vào và mở Balô ra kiểm tra thấy có: 01 máy ảnh hiệu Sony A7 II R New màu đen đã cũ, 02 ống kính máy ảnh hình trụ màu đen nhãn hiệu Leica Summicron M1: 2/35, M1: 2/50 đựng trong túi vải màu đen trên bề mặt ghi dòng chữ Lowepro; 500 USD và 300.000 VND; 02 áo trẻ em; 01 chùm 02 chìa khóa móc với miếng gỗ màu nâu trên mặt có viết số 10. T lấy máy ảnh, 02 ống kính máy ảnh, 500USD và 300.000 VND bỏ vào trong Balô của Tú, còn Balô của anh BCEKER CYRILLE và 02 áo trẻ em, 01 chùm 02 chìa khóa móc với miếng gỗ màu nâu trên mặt có viết số 10 Tú vứt ở ven đường gần cầu Sông Vó, trên đường về T vào Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Nghi Sơn, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đổi 480 USD được 11.109.600 VND. Tối ngày 29/7/2019, T đã sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A50 chụp hình máy ảnh Sony và nhắn tin vào điện thoại di động cho anh Cao Văn Đ sinh năm 1997 trú tại xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để nhờ anh Đ bán hộ chiếc máy ảnh Sony và 02 ống kính máy ảnh, anh Đ xem tin nhắn và hình ảnh máy ảnh Sony sau đó đồng ý mua với giá 10.500.000 đồng, ngày 03/8/2019 anh Đ đã chuyển cho T 10.500.000 đồng, T nhận tiền và đi mua 01 chỉ vàng, số tiền còn lại T sử dụng chi tiêu cho bản thân.

Đối với anh BCEKER CYRILLE, sau khi bị cướp giật tài sản đã về nơi ở là Khách sạn Tam Cốc-Garden, thuộc xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình và làm đơn trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định Trưng cầu người phiên dịch và dịch thuật lấy lời khai của anh BCEKER CYRILLE. Qua công tác điều tra xác minh, Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Văn T, tại cơ quan điều tra Lê Văn T đã khai nhận hành vi Cướp giật tài sản như đã nêu ở trên và giao nộp: 12.000.000 đồng, 01 nhẫn vàng, 01 xe môtô Honda Winner BKS 36C1-374.89 màu trắng, 01 điện thoại di động-Samsung Galaxy A50 màu xanh đen, kiểm tra Facebook điện thoại của T, có hình ảnh của máy ảnh Sony và tin nhắn của T nhắn tin cho anh Đ, anh Đ nhắn tin cho Tú về nội dung mua bán máy ảnh Sony.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn T tại thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa thu giữ: 01 Balô màu xanh tím KT (45x50x10) cm. 01 Cờlê màu trắng cỡ 10- 14, 01 mũ bảo hiểm có hàm màu trắng, 01 quần bò màu xanh, 01 áo chống nắng bằng vải kẻ ô, đen, đỏ, trắng, 01 đôi giầy vải da màu đen, 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Lê Văn T số thẻ 038098004846.

Ngày 03/8/2019 anh Cao Văn Đ đã giao nộp: 01 máy ảnh hiệu Sony A7 II R New màu đen đã cũ và 02 ống kính máy ảnh hình trụ màu đen nhãn hiệu Leica Summicron M1: 2/35, M: 2/50 đựng trong túi vải màu đen bề mặt ghi chữ Lowepro, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Active 1 màu vàng hồng. Cơ quan điều tra đã kiểm tra Facebook điện thoại của anh Đ, có hình ảnh của máy ảnh Sony và tin nhắn của anh Đ nhắn tin cho T, T nhắn tin cho anh Đ về nội dung mua bán máy ảnh Sony.

Ngày 04/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã truy tìm được 02 chiếc áo trẻ em, 01 chùm 02 chìa khóa móc với miếng gỗ màu nâu trên mặt có viết số 10 tại ven đường gần cầu Sông Vó thuộc địa phận xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, còn chiếc Balô nhãn hiệu Quechua không tìm thấy.

Ngày 30/7/2019, 03/8/2019 và ngày 06/9/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định Trưng cầu giám định và yêu cầu định giá tài sản:

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 19/KL - HĐĐG ngày 01/8/2019 và số 20/KL - HĐĐG ngày 06/8/2019 của UBND huyện H, kết luận: 01 máy ảnh SONYA711 R New có giá trị là 36.248.280 đồng, 500 USD x 23.160 VND/01USD =11.580.000 đồng, tổng cộng là 47.828.280 đồng (làm tròn 47.828.000 đ), 02 ống kính máy ảnh Leica Summicron loại 50mm và 35mm, 01 Balô nhãn hiệu Quechua không xác định được năm sản xuất nên không đủ căn cứ để định giá, 02 chiếc áo trẻ em, 01 chùm 02 chìa khóa móc với miếng gỗ màu nâu trên mặt có viết số 10 không rõ nguồn gốc, xuất sứ nên không đủ căn cứ để định giá.

Tại kết luận giám định số 4679/C09-P4 ngày 23/8/2019 của Viện KHHS-BCA, kết luận: 01 nhẫn kim loại màu vàng bên trong có chữ số “CHI DIEP 9999 1 CHỈ” gửi giám định có khối lượng 3,75gam là vàng (Au), hàm lượng Au trung bình 99,6%.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 24/KL-HĐĐG ngày 09/09/2019 của UBND huyện Hoa Lư: 01 chỉ vàng bên trong có khắc chữ số “CHI DIEP 9999 1 CHỈ” có khối lượng 3,75gam, hàm lượng vàng là 99,6% có giá trị là 3.880.000 đồng.

Sau khi bị cướp giật tài sản anh BCEKER CYRILLE đã khai báo với Cơ quan điều tra và ủy quyền lại cho chị Đinh Lệ D, sinh năm 1994 là người phiên dịch tại Khách sạn Tam Cốc-Garden nhận lại tài sản. Ngày 21/8/2019 Công an huyện H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị D: 01 máy ảnh hiệu Sony A7 II R New màu đen đã cũ, 02 ống kính máy ảnh hình trụ màu đen nhãn hiệu Leica Summicron M: 2/35, M: 2/50 đựng trong túi vải màu đen trên bề mặt ghi dòng chữ Lowepro, 02 áo trẻ em, 01 chùm 02 chìa khóa móc với miếng gỗ màu nâu trên mặt có viết số 10.

Ngày 26/9/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định xử lý đồ vật, trả lại chiếc điện thoại di động Vsmart Active 1 cho anh Cao Văn Đ.

Vật chứng và các tài sản còn lại gồm: 12.000.000 đồng, 01 nhẫn vàng (Au), 01 xe mô tô Honda Winner BKS 36C1-374.89 màu trắng, 01 điện thoại di động - Samsung Galaxy A50 màu xanh đen, 01 Balô màu xanh tím KT (45x50x10) cm, 01 Càlê màu trắng cỡ 10- 14, 01 mũ bảo hiểm có hàm màu trắng, 01 quần bò màu xanh, 01 áo chống nắng bằng vải kẻ ô, đen, đỏ, trắng, 01 đôi giầy vải, da màu đen, 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Lê Văn T số thẻ 038098004846.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Winner BKS 36C1-374.89, quá trình điều tra xác định, nguồn gốc xe là của ông Lê Văn T1 và bà Cao Thị S là bố mẹ đẻ của bị cáo bỏ tiền ra mua, lấy tên của bị cáo để đăng ký xe và giao xe cho bị cáo sử dụng. Việc bị cáo sử dụng xe đi cướp giật tài sản và việc bị cáo chưa có giấy phép lái xe ông T1 và bà S không biết, không được hưởng lợi về tài sản, nên không xem xét xử lý. Về giấy đăng ký xe bị cáo khai đã làm mất nên không thu giữ được.

Tại bản cáo trạng số 03/CT - VKS-P2 ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình. Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 29/7/2019, tại đường liên xã thuộc địa phận xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình Lê Văn T đã có hành vi sử dụng xe mô tô Honda Winner, BKS 36C1-37489 làm phương tiện áp sát vào phía bên trái xe đạp của anh BCEKER CYRILLE Quốc tịch Pháp đang đạp xe đạp chở theo con nhỏ, dùng tay phải giật chiếc Balô nhãn hiệu Quechua đang để ở giỏ trước ghi đông xe đạp, chiếm đoạt của anh BCEKER CYRILLE Balô bên trong có 01 máy ảnh hiệu Sony A7 II R New màu đen, 500 USD và 300.000 VND có tổng giá trị là 48.128.000 VND cùng 02 ống kính máy ảnh bỏ trong túi vải, 02 áo trẻ em, 01 chùm 02 chìa khóa móc với miếng gỗ màu nâu trên mặt có viết số 10.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử :

Căn cứ vào: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

Căn cứ vào: Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 591 và 593 Bộ luật Dân sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt Lê Văn T từ 3 năm 6 tháng tù đến 4 năm tù

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn T phải trả lại cho anh BCEKER CYRILLE thông qua người ủy quyền là chị Đinh Lệ D số tiền: 500 USD (tương đương 500 USD x 23.160 VND/01USD = 11.580.000 đồng và 300.000 đồng. Tổng cộng là 11.880.000 đồng.

3. Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Trả lại cho ông Lê Văn T1 và bà Cao Thị S 01 xe mô tô Honda Winner BKS 36C1-374.89, màu sơn trắng, đen.

Tịch thu tiêu hủy: 01 Balô màu xanh tím KT (45x50x10) cm, 01 Càlê màu trắng cỡ 10- 14, 01 mũ bảo hiểm có hàm màu trắng, 01 quần bò màu xanh, 01 áo chống nắng bằng vải kẻ ô, đen, đỏ, trắng, 01 đôi giầy vải, da màu đen.

Trả lại cho Lê Văn T: 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Lê Văn T số thẻ 038098004846; Trả lại cho Lê Văn T số tiền 12.000.000 đồng, 01 nhẫn vàng (Au), 01 điện thoại di động - Samsung Galaxy A50 màu xanh đen, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T không có ý kiến gì hoặc khiếu nại gì về kết luận giám định hay các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố, công nhận Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội không oan; bị cáo T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo Lê Văn T, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật chứng thu giữ cùng các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản định giá tài sản vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 29/7/2019, tại đường liên xã thuộc địa phận xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, Lê Văn T đã có hành vi sử dụng xe môtô Honda Winner, BKS 36C1-37489 làm phương tiện áp sát vào phía bên trái xe đạp của anh BCEKER CYRILLE Quốc tịch Pháp đang đạp xe đạp chở theo con nhỏ, dùng tay phải giật chiếc Balô nhãn hiệu Quechua đang để ở giỏ trước ghi đông xe đạp, chiếm đoạt của anh BCEKER CYRILLE Balô bên trong có 01 máy ảnh hiệu Sony A7 II R New màu đen, 500 USD và 300.000 VND có tổng giá trị là 48.128.000 VND cùng 02 ống kính máy ảnh bỏ trong túi vải, 02 áo trẻ em, 01 chùm 02 chìa khóa móc với miếng gỗ màu nâu trên mặt có viết số 10. Hành vi nói trên của Lê Văn T đã phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Điều 171. Tội cướp giật tài sản.

1.Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm a) ………………………………... d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm.

……………………………………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo Lê Văn T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là sử dụng xe mô tô làm phương tiện để cướp giật tài sản là dùng thủ đoạn nguy hiểm, Lê Văn T đã chiếm đoạt tài sản của anh BECKER CYRILLE Quốc tịch Pháp xảy ra tại thôn K, xã N, huyện H. Lẽ ra bị cáo là thanh niên mới lớn, có sức khỏe T phải chủ động chọn một con đường phát triển bản thân như bao thanh niên khác là người có ích cho xã hội, nhưng Lê Văn T lại không chịu lao động học tập mà lại đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của Lê Văn T rất nghiêm trọng, đối tượng giật cướp tài sản lại nhằm vào người nước ngoài thì lại càng nghiêm trọng hơn, làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín về đất nước, con người Việt Nam, nhất là địa điểm cướp giật lại là khu du lịch nổi tiếng nằm trong quần thể danh thắng nổi tiếng thế giới được UNESCO công nhận. Vì vậy, hành vi phạm tội của Lê Văn T cần phải được xử lý thật nghiêm khắc để giáo dục con người T trở thành người tốt có ích cho xã hội và cũng để răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lê Văn T đã thành khẩn khai báo, gia đình T tự nguyện trả lại cho anh Cao Văn Đ số tiền T có được do bán tài sản phạm tội mà có là 10.500.000 đồng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm Dân sự:

Anh BCEKER CYRILLE đã ủy quyền lại cho chị Đinh Lệ D, yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 500 USD (tương đương 500 USD x 23.160 VND/01USD =11.580.000 đồng) và 300.000 VND. Về chiếc Balô bị mất, anh BCEKER CYRILLE khai báo là mua đã lâu đến nay không còn giá trị nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Đối với anh Cao Văn Đ là người đã mua máy ảnh và ống kính máy ảnh của T với giá 10.500.000 đồng, nhưng trước khi mua anh Đ đã hỏi T về nguồn gốc máy ảnh và ống kính máy ảnh, T nói là nhặt được nên chưa có đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với anh Đ. Ngày 09/11/2019 ông Lê Văn T1 là bố đẻ của T đã trả lại cho anh Đ số tiền 10.500.000 đồng, anh Đ đã nhận lại tiền và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, trong quá trình điều tra Lê Văn T còn khai nhận, khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/7/2019 tại đường liên xã, thuộc địa phận xã Ninh Xuân – N, huyện H, Lê Văn T đã có hành vi sử dụng xe mô tô Honda Winner, BKS 36C1-374.89 cướp giật của chị STELLA RIGGI sinh năm 1997, Quốc tịch Italia

- 01 chiếc Balô bên trong có 01 máy ảnh Canon DS126291 trị giá 2.500.000 đồng, 440 Euro quy đổi là 11.235.400 đồng và 800.000 VND, tổng cộng là 13.735.400 đồng. Sau khi bị cướp giật tài sản chị STELLA RIGGI không trình báo, nên Cơ quan điều tra đã tách hồ sơ vụ việc cùng vật chứng có liên quan để giải quyết riêng theo chế độ tin báo. Ngày 13/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã có công văn số 1197/UTTPHS-PC01, gửi và đề nghị Viện kiểm sát nhân dân Tối cao chuyển hồ sơ ủy thác Tư pháp đến nước Cộng hòa Italia để thu thập thông tin liên quan đến chị STELLA RIGGI.

Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án như sau:

Đối với chiếc xe môtô Honda Winner BKS 36C1-374.89, giấy đăng ký xe bị cáo khai đã làm mất nên không thu giữ được. Quá trình điều tra xác định, nguồn gốc xe này là của ông Lê Văn T1 và bà Cao Thị S là bố mẹ đẻ của bị cáo tặng cho bị cáo để đăng ký xe và giao xe cho bị cáo sử dụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy xe mô tô này là của bị cáo, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 Balô màu xanh tím KT (45x50x10) cm, 01 Càlê màu trắng cỡ 10- 14, 01 mũ bảo hiểm có hàm màu trắng, 01 quần bò màu xanh, 01 áo chống nắng bằng vải kẻ ô, đen, đỏ, trắng, 01 đôi giầy vải, da màu đen,

Trả lại cho Lê Văn T : 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Lê Văn T số thẻ 038098004846; trả lại cho Lê Văn T 12.000.000 đồng, 01 nhẫn vàng (Au), 01 điện thoại di động - Samsung Galaxy A50 màu xanh đen nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Lê Văn T bị kết án phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

Vĩ các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Căn cứ vào: Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 591 và 593 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/8/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn T phải trả lại cho anh BCEKER CYRILLE thông qua người ủy quyền là chị Đinh Lệ D số tiền: 500 USD (tương đương 500 USD x 23.160 VND/01USD = 11.580.000 đồng và 300.000 đồng. Tổng cộng là 11.880.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Điều 106 của Bộ luật Tố tụng để xử lý vật chứng của vụ án như sau:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội: 01 xe môtô Honda Winner BKS 36C1-374.89, màu sơn trắng, đen.

Tịch thu tiêu hủy: 01 Balô màu xanh tím KT (45x50x10) cm, 01 Càlê màu trắng cỡ 10- 14, 01 mũ bảo hiểm có hàm màu trắng, 01 quần bò màu xanh, 01 áo chống nắng bằng vải kẻ ô, đen, đỏ, trắng, 01 đôi giầy vải, da màu đen.

(Chi tiết đặc điểm các vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Ninh Bình và Cục Thi hành án dân sự tình Ninh Bình ngày 26/03/2020).

Trả lại cho Lê Văn T 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Lê Văn T số thẻ 038098004846;

Trả lại cho Lê Văn T số tiền 12.000.000 đồng, 01 nhẫn vàng (Au), 01 điện thoại di động - Samsung Galaxy A50 màu xanh đen, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ ủy nhiệm chi lập ngày 27/3/2020 của Công an tỉnh Ninh Bình và Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình tại Kho bạc nhà nước tỉnh Ninh Bình.

3. ¸n phÝ: Buéc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 594.000 đồng (năm trăm chín mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm

¸n xö s¬ thÈm c«ng khai, bÞ c¸o, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt, ® îc quyÒn kh¸ng c¸o trong thời h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, ® îc quyÒn kh¸ng c¸o trong thời h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ