- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng A trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 BLHS 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HSST Ngày: 24-6-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Lành.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Văn Lý
Ông Nguyễn Văn Hải
Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở tòa án huyện Thạnh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2020/HSST ngày 23 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐST-HS ngày 28/4/2020 đối với bị cáo:
Lê Hoàng A; Tên gọi khác: Mon; Giới tính: Nam.
Sinh năm: 1995; Nơi sinh: Tân An, Long An.
HKTT: 456/5B, Khu phố 7, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Ấp 1, xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa, Long An.
Nghề Nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Lê Minh Hào, sinh năm: 1978 (Đã chết).
Và bà Đặng Thu Trang, sinh năm: 1977.
Gia đình bị cáo có 02 anh em ruột.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại (Có mặt)
* Bị hại: Bà Trương Thị Thúy Liễu, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp 1, xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Có mặt).
* Ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh Phi, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp 1, xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (Có mặt).
* Ngƣời làm chứng:
- Huỳnh Kim Hương, sinh năm 1970, địa chỉ: Ấp 1, xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
- Lê Thị Kim Ánh, sinh năm 1976, địa chỉ: Ấp 1, xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
- Nguyễn Văn Thẳng, sinh năm 1967, địa chỉ: Ấp 1, xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS, ngày 22/4/2020, bị cáo Lê Hoàng A bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Lê Hoàng A là hàng xóm, thường xuyên qua lại nhà Trương Thị Thúy Liễu. Khoảng 09h ngày 22/01/2020, Lê Hoàng A sang nhà chị Liễu để trả tiền nợ số tiền 3.100.000đ do Anh mượn nợ trước đó. Trả tiền xong, Hoàng Anh nhậu với một số người bạn tại quán của chị Liễu. Đến 16h cùng ngày, Liễu đóng cửa quán đi công việc nên Lê Hoàng A điều khiển xe môtô biển số 53XA-2480 đi về. Đến 20h Hoàng Anh quay lại quán của Liễu nằm võng và sử dụng điện thoại. Do điện thoại hết pin nên Hoàng Anh mở cửa sau nhà Liễu để vào nhà tìm cục sạc pin điện thoại, phát hiện trong phòng ngủ có chùm chìa khóa nên lấy chìa khóa mở hộc tủ bàn trang điểm. Khi mở hộc tủ, Hoàng Anh thấy bên trong có một sấp tiền nên nảy sinh ý định lấy trộm tiền. Hoàng Anh dùng tay trái cầm sấp tiền, tay phải rút một sấp tiền, sau đó bỏ tiền và chùm chìa khóa vào túi quần bên phải. Số tiền còn lại Hoàng Anh bỏ lại chỗ cũ trong hộc tủ. Khi lấy tiền xong Hoàng Anh đi ra ngoài đứng bên hông nhà lấy tiền ra đếm được 16 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đ, tổng cộng là 8.000.000đ. Sau khi phát hiện mất số tiền 8.000.000đ, chị Liễu nghi ngờ Hoàng Anh lấy trộm nên khoảng 17h ngày 28/01/2020 Liễu điện thoại cho Hoàng Anh nhưng Hoàng Anh không bắt máy, Liễu nhắn tin nói muốn gặp nên Hoàng Anh hẹn trưa ngày 29/01/2020. Đến 11h30’ ngày 29/01/2020, chị Liễu điện thoại cho Hoàng Anh nói bị mất tiền và hỏi Hoàng Anh có lấy trộm tiền không? Hoàng Anh trả lời không có. Khoảng 15 phút sau Hoàng Anh điện thoại lại cho chị Liễu và thừa nhận đã lấy số tiền 8.000.000 đồng, đồng thời Hoàng Anh đã trả lại số tiền cho chị Liễu. Riêng chùm chìa khóa Hoàng Anh đã làm thất lạc.
Viện kiểm sát huyện Thạnh Hóa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương Thị Thúy Liễu đã nhận lại số tiền 8.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa:
Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, Điều 65 đề nghị xử từ 9-12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 đến 24 tháng, giao bị cáo về UBND xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Lê Hoàng A là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực hành vi. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng.
Bị cáo Lê Hoàng A, lợi dụng sự sơ hở của chị Trương Thị Thúy Liễu, lấy trộm số tiền 8.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị chị Liễu nghi ngờ là người lấy trộm tiền, Hoàng Anh đã thừa nhận hành vi phạm tội và trả lại toàn bộ tiền cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, khoản 1 điều 51 BLHS; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i,s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha bị cáo mất sớm, mẹ có gia đình khác. Từ nhỏ, bị cáo không được quan tâm, chăm sóc. Người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về mức hình phạt: Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cũng như nguyện vọng của người bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ tiền, không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 BLHS 2015;
Tuyên xử: Bị cáo Lê Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm điểm b, i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án 24/6/2020. Giao bị cáo cho UBND xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa theo dõi, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thờ i gian thử thách, ngườ i được hưở ng án treo cố ý vi pha ̣m nghia vu ̣̃ 02 (hai) lần trở lên thi Tòa án có thể quyết đi ̣nh buô ̣c ngườ i được hưở ng án treo
̀ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định vế án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo, Người bị hại, Người có quyền nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Thạnh Hóa; - VKSND tỉnh Long An; - Công an huyện Thạnh Hóa (2); - Chi cục THADS huyện Thạnh Hóa; - UBND xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa; - Những người TGTT khác; - TAND tỉnh Long An; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thúy Lành |