vanban.org

Bản án 10/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Tuyên án 05/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Ng, Đặng Văn H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”;

[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 09 (không chín) tháng tù nhưng cho nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 05/3/2020. Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 06 (không sáu) tháng tù, nhưng cho nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười ha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tội làm giả giấy tở tài liệu - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ ch…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Ng, Đặng Văn H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/HS-ST
Ngày: 05 - 3 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Chỉnh.

Ông Đào Văn Rạng.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Công Trình – Thư ký Toà án nhân dân huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Kiểm sát viên.

Ông Hà Viết Chinh – Kiểm sát viên dự khuyết.

Trong các ngày 28 tháng 02 năm 2020, ngày 05/03/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2019/TLST- HS ngày 24 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Ng- Sinh năm 1982 tại tỉnh Nam Định;

Nơi cư trú: Xóm 12, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn Ngưỡng và bà Trương Thị The, Vợ: Vũ Thị Hằng Con: Có 01 con, sinh năm 2004, Tiền sự, tiền án: Không. Tiền sự, tiền án: Không. Nguyễn Văn Ngbị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/9/2019 cho đến nay.

2. Đặng Văn H- Sinh năm 1986 tại tỉnh Nam Định;

Nơi cư trú: Xóm Hồng Thái, xã Yên Lộc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; con ông Đặng Kim Đoàn và bà Nguyễn Thị Ngạn; có vợ là Vũ Thị Hà; con: Có 01 con, sinh ngày 09/6/2019. Tiền sự, tiền án: Không; Đặng Văn H được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh từ ngày 04/11/2019 cho đến nay.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Vũ Thị Hà, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm Hồng Thái, xã Yên Lộc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

2. Anh Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ dân phố Bắc, thị trấn Liễu Đề, huyện N, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Văn Trung, sinh ngày 27/9/2001

Đại diện theo pháp luật của anh Trung: Chị Trần Thị Ngát, sinh năm 1967

Nơi cư trú tại: Đội 5, xã Nghĩa Đồng, huyện N, tỉnh Nam Định;

2. Ông Bùi Bằng Đoàn, sinh năm 1956

Nơi cư trú: Xóm 12, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên toà có mặt các bị cáo; vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Ngvà Đặng Văn Hlà bạn học cùng lớp toán tin khóa 27, trường Cao đẳng sư phạm Nam Định (khóa học 2005-2008). Ng biết H đang làm nghề photocopy tại nhà. Khoảng tháng 09 năm 2018, Ng thấy có nhiều người dân có nhu cầu làm giấy khám sức khỏe để xin việc tại các công ty nên nảy sinh ý định làm giấy khám sức khỏe giả để bán kiếm lời. Ng dùng điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, có số thuê bao là 0835.883.488 gọi điện cho H, có số thuê bao là 0988.382.592; Ng nói với H làm giấy khám sức khỏe giả. H đồng ý. Đến khoảng cuối tháng 9 năm 2018, Nguyễn Văn Ngđiều khiển xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, biển số 18L1-165.90, sơn màu đỏ - đen – trắng, đã qua sử dụng đến Chi nhánh công ty cổ phần y tế Việt Nam – Phòng khám đa khoa 108, có trụ sở tại số 02, đường Hoàng Hoa Thám, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định khám sức khỏe, mục đích để lấy mẫu giấy khám sức khỏe và các mẫu dấu trên giấy khám sức khỏe về đưa cho H để làm giả. Sau khi khám xong và lấy được tờ giấy khám sức khỏe của Phòng khám đa khoa 108 Nam Định, Nguyễn Văn Nglột 01 ảnh 4x6 cm của Ng ở tờ giấy khám sức khỏe vứt đi, sau đó đến nhà Đặng Văn Hđưa cho H tờ giấy khám sức khỏe vừa lấy ở Phòng khám đa khoa 108 để làm mẫu. Đầu tiên, H dùng phần mềm Word đánh chữ theo mẫu đen trắng trên khổ giấy A3 giống với mẫu Ng đưa nhưng Ng bảo H thay đổi phần tiêu đề ở góc trên bên trái của giấy khám sức khỏe: “CN CTCP Y TẾ VIỆT NAM PHÒNG KHÁM ĐA KHOA 108” sửa thành: “PHÒNG KHÁM ĐA KHOA 108 NAM ĐỊNH”; H lưu vào ổ D của máy tính, tạo thư mục: “khach hang”, thư mục con: “MAU GIAY KHAM SK”. Sau đó, H dùng điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, vỏ màu vàng, có số thuê bao là 0988.382.592, đã qua sử dụng của H chụp lại ảnh dấu tròn, dấu chức danh bác sỹ: “CKI Lê Văn Tuyển” trên giấy khám sức khỏe Ng mang đến, rồi kết nối điện thoại với máy tính bằng dây sạc điện thoại, đưa hình ảnh con dấu và dấu chức danh lưu vào ổ D của máy tính, trong thư mục: “khach hang”, thư mục con: “MAU GIAY KHAM SK”. H dùng phần mềm photoshop để chỉnh sửa các con dấu giống với các con dấu trên giấy khám sức khỏe Ng mang đến về hình thức, màu sắc và kích thước. Ng bảo H thay đổi nội dung ghi trong con dấu tròn của phòng khám đa khoa 108, sửa “CHI NHÁNH CÔNG TY CP Y TẾ VIỆT NAM PHÒNG KHÁM ĐA KHOA 108” thành: “PHÒNG KHÁM ĐA KHOA 108 NAM ĐỊNH” và xóa đi một vòng tròn viền ngoài trên hình con dấu. Sau đó, H dùng thước kẻ màu trắng, dài khoảng 20 cm để đo vị trí hình con dấu trên giấy khám sức khỏe Ng đưa. Cụ thể: đối với hình con dấu tròn ở mục dán ảnh giáp lai, H đo từ mép trên và mép trái của giấy A3 đến tâm con dấu trên giấy khám sức khỏe để xác định vị trí cần ghép ảnh con dấu trên máy tính cho tương ứng. Sau đó dán hình con dấu đã photoshop lên khổ giấy A3 trắng theo đúng kích thước đã đo, rồi bôi trắng gần ¼ góc phía trên bên trái của con dấu để tạo ra góc khuyết khi dán ảnh chân dung. Tương tự đối với dấu chức danh ở mục họ tên, chữ ký của bác sỹ và hình dấu tròn của phần người kết luận H cũng dùng thước kẻ đo để xác định đúng vị trí giống như mẫu Ng đưa ra. Sau đó, H ghép ảnh các con dấu đã chỉnh sửa lên khổ giấy A3 trắng. H in mẫu giấy khám sức khỏe đã đánh chữ trước đó qua máy photocopy, nhãn hiệu Toshiba, số hiệu e.STUDIO 656, vỏ màu trắng rồi đưa vào máy in phun màu, nhãn hiệu CANON, vỏ màu đen in hình ảnh các con dấu vừa chỉnh sửa lên trên giấy A3. Cuối cùng, H in ra được 01 giấy khám sức khỏe giả của Phòng khám đa khoa 108 (Giấy khám sức khỏe giả có 01 dấu tròn ở mục dán ảnh giáp lai đã bị khuyết 01 góc phía trên bên trái của con dấu, 03 dấu chức danh bác sỹ CKI Lê Văn Tuyển ở phần khám, 01 dấu tròn và 01 dấu chức danh bác sỹ CKI Lê Văn Tuyển ở phần người kết luận nhưng chưa ghi thông tin người khám, thông tin về việc khám sức khỏe, kết luận). Ng xem 01 tờ giấy khám sức khỏe H vừa làm xong và bảo H không phải chỉnh sửa gì nữa. Ng bảo H in thêm một số tờ giấy khám sức khỏe đen trắng, chưa có hình các con dấu để giới thiệu cho người có nhu cầu mua giấy khám sức khỏe. H in thêm cho Ng 09 tờ giấy khám sức khỏe, khổ giấy A3, không có hình các con dấu. H lấy của Ng 30.000 đồng là tiền công làm 01 tờ giấy khám sức khỏe giả, còn lại 09 tờ không có hình các con dấu H không lấy tiền. H và Ng thỏa thuận, nếu lần sau Ng mang phôi giấy có điền đầy đủ thông tin của người khám lên để H in các mẫu dấu đã chỉnh sửa của Phòng khám đa khoa 108 Nam Định thì mỗi tờ giấy khám sức khỏe H lấy 3.000 đồng. Sau đó, Ng cầm 01 tờ giấy khám sức khỏe Ng trực tiếp đi khám tại phòng khám đa khoa 108 Nam Định và 01 tờ giấy khám sức khỏe giả có hình các mẫu con dấu của Phòng khám đa khoa 108 Nam Định H vừa làm cho Ng, 09 tờ giấy khám sức khỏe không có hình các con dấu đi về nhà. Khi đi qua phà Đống Cao để sang xã Nghĩa Minh, N; Ng đã ném tờ giấy khám sức khỏe Ng đi khám ở phòng khám đa khoa 108 Nam Định xuống sông Đào. Số giấy khám sức khỏe còn lại, Ng mang về nhà cất giấu, khi nào có người hỏi thì đem bán. Đến khoảng đầu tháng 12/2018 và đầu tháng 05/2019, Ng tiếp tục dùng điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, có số thuê bao là 0835.883.488 gọi điện cho H, có số thuê bao là 0988.382.592, bảo H in tiếp cho Ng mỗi lần 10 tờ giấy khám sức khỏe đen trắng, không có hình các mẫu dấu. Khoảng đầu tháng 12/2018 và đầu tháng 05/2019, Ng đến nhà H mang về mỗi lần 10 tờ giấy khám sức khỏe đen trắng, không có hình các mẫu dấu nhưng chưa bán được cho ai. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/6/2019, Ng đang ở nhà thì có Nguyễn Văn Hoàng ở tổ dân phố Bắc, thị trấn Liễu Đề, huyện N, tỉnh Nam Định và Vũ Văn Trung ở đội 5, xã Nghĩa Đồng, huyện N, tỉnh Nam Định đến nhà Ng ngồi uống nước. Qua nói chuyện, Ng biết Hoàng đến Trung tâm y tế khám sức khỏe để đi xin việc; Ng nói với Hoàng có thể làm giấy khám sức khỏe nhanh, giá rẻ, lại không phải khám; Hoàng đồng ý làm. Ng ghi lại thông tin của Hoàng như họ tên, địa chỉ, ngày, tháng, năm sinh, số thẻ căn cước, chiều cao, cân nặng; lấy 01 ảnh kích thước 4x6 cm của Hoàng; Ng và Hoàng thỏa thuận 01 giấy khám sức khỏe có giá 200.000 đồng và hẹn Hoàng đầu giờ chiều đến lấy. Sau khi Hoàng và Trung ra về, Ng lấy giấy khám sức khỏe có hình dấu của Phòng khám đa khoa 108 Nam Định mà H đã làm giả cho Ng vào cuối tháng 09 năm 2018, dán ảnh chân dung của Hoàng. Để tạo hình dấu tròn giáp lai, Ng dùng nắp chai dầu ăn màu xanh cùng bút bi mực đỏ kHh tròn cho khớp với hình con dấu rồi dùng bút bi mực xanh điền các thông tin liên quan đến người khám; thông tin về phần khám thể lực, khám lâm sàng, khám cận lâm sàng và phần kết luận. Trong phần khám cận lâm sàng, Ng sử dụng bút bi mực xanh ký và ghi tên bác sỹ khám Nguyễn Thị Hát. Trong phần người kết luận của giấy khám sức khỏe, Ng cũng sử dụng bút bi mực xanh ký tên của bác sỹ Lê Văn Tuyển. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2019, Nguyễn Văn Hoàng đi cùng Vũ Văn Trung đến nhà Nguyễn Văn Ngđể lấy giấy khám sức khỏe như đã thỏa thuận từ trước. Ng đưa cho Hoàng 01 tờ giấy khám sức khỏe giả; Hoàng đưa lại cho Ng số tiền 200.000 đồng (Hoàng không biết tờ giấy khám sức khỏe Ng bán là giả); Ng cầm 200.000 đồng thì bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của Hoàng 01 giấy khám sức khỏe (ký hiệu A1) có dán ảnh kích thước 4x6 cm, ghi tên Nguyễn Văn Hoàng và đề ngày 12/6/2019, có ghi đầy đủ thông tin về kết quả khám sức khỏe, Hoàng khai nhận là 01 giấy khám sức khỏe vừa mua của Ng với giá 200.000 đồng. Thu giữ của Ng số tiền 200.000 đồng, Ng khai nhận là tiền bán 01 giấy khám sức khỏe giả cho Hoàng mà có. Ngoài ra, còn thu giữ của Ng 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, có số thuê bao là 0835.883.488 và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, vỏ màu hồng, có số thuê bao là 0944.644.882, đều đã qua sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Ngở xóm 12, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Văn H, ở xóm Hồng Thái, xã Yên Lộc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; thu giữ 01 cây máy tính nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen và 01 máy in màu nhãn hiệu Canon, vỏ màu đen, đều đã qua sử dụng. Tại biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 12/6/2019; thu giữ của H 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng, có số thuê bao là 0988.382.592.

Ngày 20/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành thực nghiệm điều tra tại nhà Đặng Văn Hở xóm Hồng Thái, xã Yên Lộc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Kết quả H đã làm 01 giấy khám sức khỏe giả của Chi nhánh công ty cổ phần y tế Việt Nam – Phòng khám đa khoa 108 có hình dấu tròn, hình dấu giáp lai và hình dấu chức danh có đặc điểm giống như giấy khám sức khỏe thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng (có kèm theo bản ảnh). Quá trình thực nghiệm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thu giữ của H 01 máy photocopy nhãn hiệu Toshiba, số hiệu e.Studio 656, vỏ màu trắng; 01 Modem Wifi của VNPT cùng đường truyền có liên quan; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG; 01 bàn phím máy tính, nhãn hiệu Genius; 01 con chuột máy tính Fuhlen, đều có vỏ màu đen, đã qua sử dụng và 04 dây kết nối giữa các thiết bị màn hình máy tính, cây máy tính, máy in phun màu và máy photocopy nhưng giao cho chị Vũ Thị Hà (là vợ của H), sinh năm 1992, ở Hồng Thái, Yên Lộc, Ý Yên, Nam Định có trách nhiệm quản lý và bảo quản những vật chứng trên.

Ngày 16/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thu giữ của Nguyễn Văn Ng01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, biển số 18L1-165.90, sơn màu đỏ đen trắng, đã qua sử dụng (là xe của Ng); Ng sử dụng xe mô tô trên để đến nhà H làm giấy sức khỏe giả.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành thu các mẫu dấu lưu trữ trong cây máy tính, nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đặng Văn Hbằng phương pháp in phun màu gồm: Mẫu dấu tròn, dấu chức danh ở phần người kết luận trong giấy khám sức khỏe (ký hiệu A2); mẫu dấu tròn ở phần giáp lai ảnh (ký hiệu A3) và mẫu dấu chức danh ở phần khám sức khỏe (ký hiệu A4). Tiến hành thu mẫu dấu tròn, mẫu chữ ký và dấu chức danh của Bác sỹ chuyên khoa I Lê Văn Tuyển của Chi nhánh công ty cổ phần y tế Việt Nam – Phòng khám đa khoa 108 (ký hiệu M) và thu 01 giấy khám sức khỏe của Phòng khám đa khoa 108 Nam Định để trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số 612/KLGĐ-PC09 ngày 20/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận:

- Hình dấu: “Phòng khám đa khoa 108 Nam Định” trên tài liệu ký hiệu A1 (thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng), A2, A3 (thu mẫu dấu từ cây máy tính của Đặng Văn H) không phải do con dấu: “Phòng khám đa khoa 108 Nam Định” trên tài liệu ký hiệu M (thu mẫu dấu của Chi nhánh công ty cổ phần y tế Việt Nam – Phòng khám đa khoa 108) đóng ra.

- Hình dấu chức danh: “Bác sỹ CKI Lê Văn Tuyển” trên tài liệu ký hiệu A1 (thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng), A2, A4 (thu mẫu dấu từ cây máy tính của Đặng Văn H) không phải do con dấu có hình dấu: “Bác sỹ CKI Lê Văn Tuyển) trên tài liệu ký hiệu M (thu mẫu dấu của Chi nhánh công ty cổ phần y tế Việt Nam – Phòng khám đa khoa 108) đóng ra.

- Chữ ký đứng tên Bác sỹ Lê Văn Tuyển trên tài liệu ký hiệu A1 (thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng) so với chữ ký đứng tên Bác sỹ Lê Văn Tuyển trên tài liệu ký hiệu M (thu mẫu dấu của Chi nhánh công ty cổ phần y tế Việt Nam – Phòng khám đa khoa 108) không phải do cùng một người ký ra.

Ngày 19/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N Quyết định trưng cầu giám định, nội dung yêu cầu giám định: Dấu tròn, dấu chức danh trên giấy khám sức khỏe thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng và mẫu dấu tròn, dấu chức danh ở phần người kết luận trong giấy khám sức khỏe; mẫu dấu tròn ở phần giáp lai ảnh và mẫu dấu chức danh thu giữ từ cây máy tính của Đặng Văn Hcó phải được in ra từ một máy tính, máy in không. Các hình con dấu được tạo ra bằng phương pháp như thế nào. Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định từ chối giám định do vượt quá khả năng chuyên môn, đề nghị chuyển Viện khoa học hình sự (C09) - Bộ Công an giám định.

Tại bản kết luận giám định số 3680/C09-P5 ngày 18/7/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Hình dấu tròn, hình dấu chức danh trên giấy khám sức khỏe thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng được in bằng phương pháp in phun màu. Không đủ cơ sở kết luận hình dấu tròn, hình dấu giáp lai, hình dấu chức danh trên giấy khám sức khỏe thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng so với hình dấu tương ứng trên các mẫu hình dấu lưu trữ trong cây máy tính của Đặng Văn Hcó phải được in ra từ một máy tính, máy in hay không.

Ngày 29/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N Quyết định trưng cầu giám định bổ sung, nội dung yêu cầu giám định: Mẫu dấu tròn, dấu chức danh ở phần người kết luận; mẫu dấu tròn ở phần giáp lai ảnh; mẫu dấu chức danh ở phần khám sức khỏe (kèm theo biên bản thu mẫu dấu ngày 17/6/2019 của Cơ quan điều tra Công an huyện N) có phải được in ra từ 01 máy tính, máy in hay không? Các hình con dấu được tạo ra bằng phương pháp như thế nào?

Tại Kết luận giám định số 5101/C09-P5 ngày 16/9/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Hình dấu tròn, dấu chức danh ở phần người kết luận; mẫu dấu tròn ở phần giáp lai ảnh; mẫu dấu chức danh ở phần khám sức khỏe được tạo ra bằng phương pháp in phun màu. Không đủ cơ sở kết luận hình dấu tròn, hình dấu chức danh có phải được in ra từ một máy tính, máy in hay không.

Ngày 24/9/2019, Viện khoa học hình sự - Bộ công an ban hành công văn số 2017/C09-P5 về việc giải thích kết luận: Dấu tròn, dấu chức danh trên giấy khám sức khỏe thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng và mẫu dấu tròn, dấu chức danh ở phần người kết luận trong giấy khám sức khỏe; mẫu dấu tròn ở phần giáp lai ảnh và mẫu dấu chức danh thu giữ từ cây máy tính của Đặng Văn Hcùng được in bằng phương pháp in phun màu, có đặc điểm thể hiện không ổn định, không có tính cá biệt nên không đủ cơ sở để xác định máy tính, máy in cụ thể đã in ra các tài liệu trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Nguyễn Văn Ngvà Đặng Văn Hđã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu.

Bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 24/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Ngữ và Đặng Văn H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như tội danh và điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, cụ thể: Nguyễn Văn Ngữ xếp ở vị trí thứ nhất, Đặng Văn H xếp ở vị trí thứ hai trong vụ án. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn Ngữ từ 9 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; p dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng ; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; đề nghị áp dụng Điều 47 bộ luật hình sự, 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng có số sêri AM 09385639 thu giữ của Nguyễn Văn Ng.

+ Tịch thu tiêu hủy 04 dây kết nối giữa các thiết bị màn hình máy tính. 02 sim điện thoại có số thuê bao 0835883488 và 0988382592.

+ Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG; 01 bàn phím máy tính, nhãn hiệu Genius; 01 con chuột máy tính Fuhlen, đều có vỏ màu đen, đã qua sử dụng và, cây máy tính, máy in phun màu, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu vàng, có số thuê bao 0988.382.592; 01 cây máy tính nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen; 01 máy in màu nhãn hiệu Canon, vỏ màu đen, đều đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, có số thuê bao 0835.883.488 thu giữ của Nguyễn Văn Ng;

Truy thu số tiền 30.000đ của Đặng Văn Hdo thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có.

+ Trả lại cho chị Vũ Thị Hà 01 máy photocopy nhãn hiệu Toshiba, số hiệu e.Studio 656, vỏ màu trắng; 01 Modem Wifi của VNPT cùng đường truyền có liên quan.

Trả lại cho Nguyễn Văn Ng01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, vỏ màu hồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, biển số 18L1-165.90, sơn màu đỏ đen trắng, đều đã qua sử dụng do không liên quan đến việc phạm tội;

Áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo Nguyễn Văn Ngữ, Đặng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa kiểm sát viên tham gia phiên tòa bà Nguyễn Thị Diệu Linh tham gia hết phần tranh tụng, Hội đồng xét xử nghị án kéo dài đến ngày 05/3/2020 tuyên án bà Linh vắng mặt, ông Hà Viết Chinh là kiểm sát viên dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thay thế bà Linh phần tuyên án. Vì vậy việc tham gia phiên tòa của kiểm sát viên là đúng pháp luật.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Khoảng tháng 9 năm 2018, Nguyễn Văn Ngnói với Đặng Văn Hlàm giả giấy khám sức khỏe để bán kiếm lời. H đồng ý. Đến khoảng cuối tháng 9/2018, Ng và H đã làm giả 01 giấy khám sức khỏe có hình dấu tròn ở phần giáp lai ảnh; hình dấu chức danh bác sỹ Chuyên khoa I Lê Văn Tuyển ở phần khám và hình dấu tròn, dấu chức danh bác sỹ Chuyên khoa I Lê Văn Tuyển ở phần người kết luận của Chi nhánh công ty cổ phần y tế Việt Nam - Phòng khám đa khoa 108, trụ sở tại số 02, đường Hoàng Hoa Thám, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2019, Nguyễn Văn Ngsau khi đã điền đầy đủ thông tin về người khám, nội dung khám bệnh đã bán 01 giấy khám sức khỏe giả trên cho anh Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1997, ở tổ dân phố Bắc, thị trấn Liễu Đề, N, Nam Định với giá 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước. Các bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự thấy đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn Ngữ, Đặng Văn H đã phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, gây nên dư luận xấu trong nhân dân ở khu vực. Vì vậy việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Xét vị trí, vai trò, tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Nguyễn Văn Nglà người đề xướng và cùng thực hiện hành vi làm giả giấy khám sức khỏe, Đặng Văn H đồng ý và là người thực hiện trực tiếp làm giấy khám sức khỏe giả. các bị cáo là đồng phạm, đây là đồng phạm giản đơn. Vai trò của các bị cáo, bị cáo Ng xếp vai trò thứ nhất, bị cáo H xếp vai trò thứ hai.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Các bị cáo Nguyễn Văn Ngữ và Đặng Văn H đều chưa có tiền án tiền sự, là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Nguyễn Văn Ngữ, Đặng Văn H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn Ngvà Đặng Văn Hphạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Ngvà Đặng Văn Hđã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đối với Nguyễn Văn Ngcó bố đẻ là ông Nguyễn Văn Ngưỡng được tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Nhất vì đã có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly các bị cáo mà để các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có thể cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy các bị cáo là người không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chi nhánh công ty cổ phần y tế Việt Nam - Phòng khám đa khoa 108 Nam Định và anh Nguyễn Văn Hoàng không yêu cầu Nguyễn Văn Ngữ, Đặng Văn H phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 giấy khám sức khỏe thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng là vật chứng được lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 máy photocopy nhãn hiệu Toshiba, số hiệu e.Studio 656, vỏ màu trắng; 01 Modem Wifi của VNPT cùng đường truyền có liên quan do chị Vũ Thị Hà (là vợ của H) mua bằng tiền riêng của chị Hà do lao động mà có. Chị Vũ Thị Hà không biết bị cáo H đã sử dụng máy photocopy vào mục đích phạm tội do đó cần trả lại cho chị Hà là chủ sở hữu;

Trả lại Nguyễn Văn Ng01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, vỏ màu hồng, có số thuê bao 0944.644.882 vì không liên quan đến việc phạm tội

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Nglà tiền Ng bán giấy khám sức khỏe giả cho Nguyễn Văn Hoàng mà có cần tịch thu sung công quỹ nhà nước,

Truy thu số tiền 30.000đ của Đặng Văn Hdo thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có.

Tịch thu tiêu hủy 04 dây kết nối giữa các thiết bị màn hình máy tính. 02 sim điện thoại có số thuê bao 0835883488 và 0988382592 vì đã hết giá trị sử dụng.

Đối với; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, có số thuê bao 0835.883.488; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, biển số 18L1-165.90, sơn màu đỏ đen trắng, đều đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Ng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu vàng, có số thuê bao 0988.382.592; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG; 01 bàn phím máy tính, nhãn hiệu Genius; 01 con chuột máy tính Fuhlen, đều có vỏ màu đen, 01 cây máy tính nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen; 01 máy in màu nhãn hiệu Canon, vỏ màu đen, đều đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Văn Hcác bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước;

Đối với chiếc thước kẻ màu trắng, dài khoảng 20 cm H dùng để đo khoảng cách con dấu tròn, dấu chức danh để làm giấy khám sức khỏe giả; 01 dây sạc để kết nối điện thoại với máy tính do bị hỏng nên H đã vứt đi; 01 ảnh kích thước 4x6 cm của Ng, Ng đã ném trên đường đi; 01 tờ giấy khám sức khỏe Ng đã khám ở Phòng khám đa khoa 108 để đưa cho H làm mẫu, khi đi qua phà Đống Cao để về nhà, Ng đã ném xuống sông Đào; 29 tờ giấy khám sức khỏe không có hình dấu của Phòng khám đa khoa 108 Ng nhờ H in để giới thiệu cho khách nhưng chưa có ai có nhu cầu làm, trong đó có một số tờ giấy bị ướt nên Ng đã vứt xuống sông đằng sau nhà Ng, còn lại 01 số tờ Ng đã đốt đi, đều không xác định được vị trí cụ thể Ng đã ném xuống đường và xuống sông; 01 chiếc bút bi mực đỏ, 01 chiếc nắp chai bằng nhựa màu xanh và 01 chiếc bút bi mực xanh, Ng sử dụng để tô dấu khuyết của dấu tròn phần giáp lai ảnh và điền các thông tin trong phần khám sức khỏe để hoàn thiện giấy khám sức khỏe giả bán cho Hoàng, Ng đã làm mất; nên đều không tiến hành truy tìm được do đó không đặt ra xử lý.

Đối với Nguyễn Văn Hoàng là người mua giấy khám sức khỏe của Nguyễn Văn Ngđể đi xin việc nhưng không biết đó là giấy khám sức khỏe giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không xử lý đối với Hoàng là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn Ngữ, Đặng Văn H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp. Riêng đề nghị trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, biển số 18L1-165.90 cho Nguyễn Văn Nglà không phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 47 Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn Ng áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Ng, Đặng Văn H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”;

[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 09 (không chín) tháng tù nhưng cho nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 05/3/2020.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 06 (không sáu) tháng tù, nhưng cho nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 05/3/2020.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Ng cho UBND xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục.

Giao bị cáo Đặng Văn H cho UBND xã Yên Lộc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Về vật chứng của vụ án:

01 giấy khám sức khỏe thu giữ của Nguyễn Văn Hoàng là vật chứng được lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

Trả lại Nguyễn Văn Ng01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, vỏ màu hồng, có số thuê bao 0944.644.882.

Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại có số thuê bao 0835883488 và 0988382592.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng có số sêri AM 09385639 thu giữ của Nguyễn Văn Ng.

Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, biển số 18L1-165.90, sơn màu đỏ đen trắng, đều đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Ng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu vàng; 01 cây máy tính nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen; 01 máy in màu nhãn hiệu Canon, vỏ màu đen, đều đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Văn H.

(Các vật chứng này đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sư huyện N theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sư huyện N và Công an huyện N ngày 24/12/2019).

Truy thu số tiền 30.000đ của Đặng Văn Hdo thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có.

Trả lại cho chị Vũ Thị Hà 01 máy photocopy nhãn hiệu Toshiba, số hiệu e.Studio 656, vỏ màu trắng; 01 Modem Wifi của VNPT cùng đường truyền có liên quan.

Tịch thu tiêu hủy 04 dây kết nối giữa các thiết bị màn hình máy tính,

Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước 01 màn hình máy tính nhãn hiệu LG; 01 bàn phím máy tính, nhãn hiệu Genius; 01 con chuột máy tính Fuhlen, đều có vỏ màu đen, đã qua sử dụng.

(Các vật chứng này hiện đang giao cho chị Vũ Thị Hà có trách nhiệm quản lý và bảo quản).

[4] Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Ngữ, Đặng Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho người có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ