vanban.org

Bản án 10/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Giang Tuyên án 16/04/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/04/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Kim T, giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Kim T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Kim T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Kim T, giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:10/2020/HS-PT
Ngày 16/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Loan

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Bà Hoàng Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Tạ Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 07/2020/TLPT-HS ngày 18 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo Hoàng Kim T, do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Kim T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Kim T; sinh ngày 30/10/1976 tại tỉnh G; nơi cư trú: Tổ 05 phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang; chỗ ở hiện nay: Tạm trú tại thôn II, xã N, thành phố H, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Quốc C, sinh năm 1954 (đã chết); con bà Đồng Thị L, sinh năm 1957; có vợ là Ngô Tuyết M, sinh năm 1975 (đã ly hôn) và có 01 con trai sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/4/2001, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã H (nay là thành phố H) tuyên phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 26/10/2005, Tòa án nhân dân thị xã H (nay là thành phố H) tuyên phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 13/3/2008, Tòa án nhân dân thành phố H tuyên phạt 24 tháng tù về tội Đánh bạc; ngày 17/9/2010, Tòa án nhân dân tỉnh G tuyên phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 6/9/2016, Tòa án nhân dân thành phố H đã tuyên phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt).

- Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 06/11/2019, Hoàng Kim T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, màu sơn đen, biển kiểm soát 23H3 - 6649 đi ra trung tâm Thành phố H, tỉnh G để giải quyết công việc cá nhân. Khi đến khu vực Phố A thuộc tổ 6, phường T, thành phố H, T phát hiện nhà của anh Nguyễn Anh N (số nhà 20, Phố Chu Văn An, tổ 6 phường T, thành phố H) không khóa cửa, quan sát xung quanh không có người, lúc này T nảy sinh ý định vào nhà anh N trộm cắp tài sản để có tiền tiêu sài. T dừng xe mô tô ngoài đường, dùng tay phải đẩy cửa vào nhà, quan sát trong nhà không có ai, đi xuống bếp thấy không có tài sản gì giá trị để lấy, T đi lên phòng khách phát hiện 01 (một) chiếc TIVI nhãn hiệu LG32INH, màn hình phẳng, vỏ màu đen đặt trên kệ. T đã tiến đến dùng tay phải rút ổ cắm điện và các dây nối phía sau tivi, rồi dùng hai tay bê chiếc ti vi mang ra phía cửa chính, khi ra khỏi nhà cách cửa chính khoảng 03 (ba) mét anh N đi từ ngoài về phát hiện T đang bê TIVI nhà mình nên nói to: “Bê tivi đi đâu đấy”; T nói:“Tôi thấy không có ai ở nhà nên tôi mang đi” rồi bê chiếc TIVI đi vào nhà đặt lại vị trí ban đầu sau đó quay ra ngoài nói với anh N: “Anh bỏ qua cho em, em đã mang trả lại rồi” rồi dắt xe mô tô bỏ chạy. Ngày 07/11/2019, biết hành vi của mình đã bị phát hiện T đã đến Công an thành phố H, tỉnh G xin đầu thú và khai nhận hành vi vi phạm của mình.

Kết luận Định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 12/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: 01 (một) chiếc TIVI nhãn hiệu LG 32INH, màn hình phẳng, vỏ màu đen trị giá 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 01/CT-VKS-TPHG ngày 25/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh G đã truy tố bị cáo Hoàng Kim T về tội: Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh G đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hoàng Kim T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Kim T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ,ngày 07/11/2019.

Ngày 23 tháng 01 năm 2020, bị cáo Hoàng Kim T có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo cho rằng mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 18 tháng tù là quá cao và nghiêm khắc; bị cáo đã thành khẩn khai báo và tự giác lên đầu thú tại Công an thành phố H, hành vi của bị cáo đã được ngăn chặn kịp thời và đã trả lại ngay tài sản cho bị hại, chưa gây ra hậu quả gì cho bị hại; bị cáo còn có mẹ già đang sống một mình bị ung thư vòng họng và con đang theo học dưới Hà Nội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình phụng dưỡng mẹ già, nuôi con ăn học, thành người có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang sau khi phân tích tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Kim T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo Hoàng Kim T đã khai nhận hành vi phạm tội. Ngày 06/11/2019, bị cáo đã điều khiển xe mô tô đi ra trung tâm thành phố H, tỉnh Hà Giang, T phát hiện nhà của anh Nguyễn Anh N tại số nhà 20, Phố A, tổ 6 phường T, thành phố H không khóa cửa. T dừng xe mô tô ngoài đường, dùng tay phải đẩy cửa vào nhà, quan sát trong nhà không có ai, T phát hiện trong phòng khách có 01 (một) chiếc ti vi nhãn hiệu LG32INH, màn hình phẳng, vỏ màu đen đặt trên kệ. T đã dùng hai tay bê chiếc ti vi mang ra phía cửa chính thì anh N đi từ ngoài về phát hiện T đang bê ti vi nhà mình nên T bê chiếc ti vi đi vào nhà đặt lại vị trí ban đầu, sau đó quay ra ngoài dắt xe mô tô bỏ chạy. Ngày 07/11/2019, biết hành vi của mình đã bị anh N phát hiện, T đã đến Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang xin đầu thú.

Về tội danh: Để đáp ứng nhu cầu tiêu sài cá nhân, bị cáo T đã bất chấp pháp luật, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếc ti vi của anh N. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh N có giá trị là 4.700.000 đồng (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Kim T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, xem xét đầy đủ, toàn diện đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử về các tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", "Đánh bạc" và 3 lần bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, mà coi thường phạt luật, tiếp tục lại phạm tội trộm cắp tài sản. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bị cáo bị bắt quả tang trộm cắp tài sản, bị cáo đã trả lại ngay chiếc ti vi cho bị hại, và ra đầu thú. Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Kim T 18 tháng tù là đúng pháp luật, phù hợp với nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo gây nên và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về những lý do bị cáo T đưa ra tại phiên tòa phúc thẩm, đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T không cung cấp được cho Hội đồng xét xử thêm các tình tiết mới về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do đó không có cơ sở để xem xét cho bị cáo.

Hội đồng xét xử đồng thuận với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang đề nghị không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Hoàng Kim T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo T không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Kim T, giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Kim T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 07/11/2019.

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Kim T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang về vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ