- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Thu H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật hình sự các hành vi
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HS-ST Ngày: 04-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Đức
Ông Phan Văn Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Trà My - Thư ký Toà án Nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tấn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án Nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/TLST-HS ngày 09/01/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST-HS ngày 20/4/2020 đối với các bị cáo:
1. Trần H– sinh năm 1994; tại Tp. B, tỉnh Đăk Lăk. Nơi cư trú: Thôn 2, xã E, Tp. B, tỉnh Đăk Lăk; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần N và bà Cao Thị L. Bị cáo có vợ là Lê Thị Thu H (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2017. Bị cáo đang chấp hành án tại trại giam A2 Bộ công an. Có mặt.
Nhân thân:
- Ngày 12/5/2017, bị TAND Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 09/01/2018, bị TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 04/4/2018, bị TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 12/4/2018, bị TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Lê Thị Thu H– sinh năm 1994; tại Tp. B, tỉnh Đăk Lăk. Nơi cư trú: Thôn 2, xã E, Tp. B, tỉnh Đăk Lăk; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th và bà Lê Thị Th. Bị cáo có chồng là Trần H (đã ly hôn) và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh tháng 02/2020; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt thi hành án ngày 21/01/2020. Bị cáo đang chấp hành án tại trại giam Đăk Trung Bộ công an. Có mặt.
Nhân thân:
- Ngày 12/5/2017, bị TAND Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 09/01/2018, bị TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 04/4/2018, bị TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 12/4/2018, bị TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
*Bị hại: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Home Credit Việt Nam.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dv – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Dv: Ông Trịnh Minh Q-sinh năm 1986.
Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà P, số 20 N, phường Th, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
* Người làm chứng: Bà Đinh Nguyễn Yến Ph – sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Ph, huyện Chư P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng giữa tháng 12 năm 2015 với mục đích gian dối nhằm qua mặt nhân viên công ty tài chính cho vay tín chấp để chiếm đoạt tiền tiêu xài cá nhân, Trần H cùng vởi vợ là Lê Thị Thu H bàn bạc thống nhất lấy ảnh của Lê Thị Thu H thay vào ảnh của Mai Thị Lệ H ở trong giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe của Mai Thị Lệ H do H mua của tiệm cầm đồ ở Đăk Lăk (không nhớ địa chỉ) để sử dụng đi lừa vay tiền mua hàng trả góp rồi chiếm đoạt.
Ngày 23/12/2015, Trần H dùng xe máy hiệu Attila Alizabes BKS: 47B1-677.93 của gia đình chở Lê Thị Thu H đến Công ty cổ phần bán lẻ kỹ thuật số FPT chi nhánh Gia Lai tại 111 Trần Phú, phường Diên Hồng, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai, đến đó Trần H đứng ở bên ngoài đợi, còn Lê Thị Thu H đi vào trong cửa hàng sử dụng giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe của chị Mai Thị Lệ H đã dán ảnh của Lê Thị Thu H nhằm qua mặt, lừa dối nhân viên bán hàng của Công ty cổ phân bán lẻ kỹ thuật số FPT và nhân viên của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Home Credit Việt Nam (Công ty Home Credit) để mua một máy tính xách tay nhãn hiệu DELL N3558/I3 với giá là 10.890.000đồng (mười triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng), H1 đã trả trước 2.200.000đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng), còn lại Lê Thị Thu H ký hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp số: 3555374526 với Công ty Home Credit, đứng tên là Mai Thị Lệ H để vay số tiền 9.234.000đông (chín triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn đồng) với lãi suất 7.09%/tháng, trả góp hàng tháng, trong thời hạn 12 tháng, mỗi tháng trả 1.181.000đong. Trong số tiền 9.234.000đồng gồm có: số tiền 8.690.000đồng (tám triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) chuyển trả cho công ty cổ phần bán lẻ FPT mà H1 mua máy tính xách tay còn thiếu và 544.000đồng (năm trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) tiền phí bảo hiểm họp đồng vay.
Khi tiến hành làm thủ tục ký kết hợp đồng chị Đinh Nguyễn Yến Ph là nhân viên kinh doanh của Công ty Home Credit đã chủ quan, chỉ xem ảnh trong giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe mang tên Mai Thị Lệ H đối chiếu với người mua hàng (Lê Thị Thu H) thấy giống nên đã tiến hành dùng Webcam của Công ty Home Credit trực tiếp chụp ảnh Lê Thị Thu H để làm thủ tục hợp đồng cho vay mang tên Mai Thị Lệ H.
Sau khi ký được hợp đồng vay tiền của Công ty Home Credit và mua được máy tính thì Trần H và Lê Thị Thu H mang máy tính về rồi đăng lên mạng xã hội (face book) mục đích bán lại chiếc máy tính đó để lấy tiền sử dụng tiêu xài cá nhân. Sau đó, H và H1 đã bán chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL N3558/I3 nêu trên cho một người (không biết họ tên cụ thể) được 7.000.000đồng (bảy triệu đồng), rồi lấy tiền tiêu xài chung mà không trả góp cho Công ty Home Credit như đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết.
Qua theo dõi thấy hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp số: 3555374526 đứng tên Mai Thị Lệ H đã quá hạn mà không trả tiền gốc và tiền lãi cho Công ty Home Credit, nhân viên an ninh của Công ty Home Credit đã kiểm tra phát hiện đã bị Lê Thị Thu H lừa đảo nên làm đơn tố giác đề nghị xử lý đối với Lê Thị Thu H và Trần H theo quy định của pháp luật.
Qua điều tra xác định: Giấy phép lái xe số AM3 83403 được Sở giao thông vận tải tỉnh Đăk Lăk cấp cho Mai Thị Lệ H sinh năm 1989, trú tại TDP5, phường Bình Tân, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 31/12/2009; giấy chứng minh nhân dân số 241135388 được Công an tỉnh Đăk Lăk cấp cho Mai Thị Lệ H vào ngày 14/6/2012. Nhưng vào đầu năm 2015, Mai Thị Lệ H đi chơi ở TP.Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk đã đánh rơi mất bóp trong đó có giấy phép lái xe và giấy chứng minh nhân dân.
Tại Kết luận giám định số: 176/KLGĐ ngày 23/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên “H1 - Mai Thị Lệ H” trên Hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp số: 3555374526 so với chữ ký, chữ viết của “H1 - Lê Thị Thu H” trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS-P3 ngày 03/01/2020, Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần H và Lê Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999.
2. Diễn biến tại phiên tòa:
* Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng là đúng, bị cáo H1 đã bồi thường cho bị hại 3.000.000đ, bị cáo H tự nguyện bồi thường toàn bộ phần còn lại, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
* Trong phần tranh luận, đại diện Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”
- Áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần H mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
+ Áp dụng khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần H mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”
+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 15 đến 21 tháng tù
+ Áp dụng Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù của bản án số 84/2018/HS-ST, ngày 04-4-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và hình phạt 01 (một) năm tù của bản án số 11/2018/HSST, ngày 12-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông và hình phạt của bản án này.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
+ Áp dụng khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”
+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 12 đến 18 tháng tù
+ Áp dụng Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộcbị cáo chấp hành hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù của bản án số 84/2018/HS-ST, ngày 04-4-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và hình phạt 09 (chín) tháng tù của bản án số 11/2018/HSST, ngày 12-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông và hình phạt của bản án này.
- Về dân sự: Buộc bị cáo H bồi thường số tiền còn lại là 6.234.000 đồng cho công ty Home Credit.
- Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Đại diện hợp pháp của công ty Home Credit nhất trí với Cáo trạng và yêu cầu Hội đồng xét xử buộc các bị cáo bồi thường số tiền gốc là 9.234.000 đồng, miễn toàn bộ số tiền lãi, xác nhận tại phiên tòa bị cáo H1 đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng, nhất trí ý kiến bị cáo H bồi thường số tiền còn lại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật hình sự các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên bị cáo Trần H và Lê Thị Thu H cùng bàn bạc, thống nhất việc dùng ảnh của Lê Thị Thu H để thay thế ảnh trong giấy phép lái xe và giấy chứng minh nhân dân của người mang tên Mai Thị Lệ H nhằm qua mặt, lừa dối nhân viên bán hàng của Công ty cổ phân bán lẻ kỹ thuật số FPT và nhân viên của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Home Credit Việt Nam (Công ty Home Credit) để mua một máy tính xách tay nhãn hiệu DELL N3558/I3 với giá là 10.890.000đồng, H1 đã trả trước 2.200.000đồng, còn lại H1 ký hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp số: 3555374526 với Công ty Home Credit, đứng tên là Mai Thị Lệ H để vay số tiền 9.234.000 đồng.
Sau khi ký được hợp đồng vay tiền của Công ty Home Credit và mua được máy tính thì Trần H và Lê Thị Thu H mang máy tính về rồi đăng lên mạng xã hội (facebook) mục đích bán lại chiếc máy tính đó để lấy tiền tiêu xài chung mà không trả góp cho Công ty Home Credit như đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết.
Với các hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm thì thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính Nhà nước, xâm phạm tài sản người khác và ảnh hưởng đến hoạt động mua bán, cho vay của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai gây mất trật tự trị an. Ngoài vụ án này, cùng với phương thức, thủ đoạn nêu trên, các bị cáo còn thực hiện nhiều lần phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Đăk Nông, tuy không thuộc trường hợp tái phạm nhưng thể hiện bản chất các bị cáo lười lao động, coi thường pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, theo đó: Bị cáo Trần H lúc này là chồng bị cáo H1 đã khởi xướng việc thực hiện hành vi phạm tội và cũng thực hành tích cực, bị cáo H1 làm theo kế hoạch của bị cáo H. Do đó, bị cáo H phải chịu mức án cao hơn bị cáo H1.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân các bị cáo không có tiền án, tiền sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Thị Thu H đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại và hiện đang có con nhỏ nên được áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tại bản án số 84/2018/HS-ST, ngày 04-4-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và bản án số 11/2018/HSST, ngày 12-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông xử phạt các bị cáo Trần H, Lê Thị Thu H về cùng hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, để có căn cứ buộc các bị cáo chấp hành chung hình phạt của các bản án trước và bản án lần này, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai sẽ quyết định hình phạt đối với các bị cáo trong bản án này và buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của nhiều bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại chỉ yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền gốc đã chiếm đoạt là 9.234.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo H1 đã bồi thường cho bị hại 3.000.000 đồng, bị cáo H tự nguyện nhận bồi thường toàn bộ số tiền còn lại là 6.234.000 đồng, đại diện bị hại đồng ý nên Hội đồng xét xử sẽ buộc bị cáo H phải trả cho phía bị hại số tiền này.
Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo H chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần H và Lê Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
*Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần H 08 (tám) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Trần H chấp hành hình phạt của cả hai tội là 20 (hai mươi) tháng tù.
- Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: buộc bị cáo chấp hành hình phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù của bản án số 84/2018/HS-ST, ngày 04-4-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Hình phạt 01 (một) năm tù của bản án số 11/2018/HSST, ngày 12-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông và hình phạt 20 (hai mươi) tháng tù của bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 03 bản án là 05 (năm) năm 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2017.
* Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H 08 (tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Lê Thị Thu H chấp hành hình phạt của cả hai tội là 14 (mười bốn) tháng tù.
- Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: buộc bị cáo chấp hành hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù của bản án số 84/2018/HS-ST, ngày 04-4-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Hình phạt 09 (chín) tháng tù của bản án số 11/2018/HSST, ngày 12-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông và hình phạt 14 (mười bốn) tháng tù của bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 03 bản án là 04 (bốn) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/01/2020.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; 585; 589 BLDS:
Buộc bị cáo Trần H bồi thường cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên Home Creddit Việt Nam số tiền 6.234.000 đồng (sáu triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Trần H phải chịu 312.000 (ba trăm mười hai nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Viện KSND cấp cao - TAND cấp cao - Viện KSND tỉnh Gia lai; - Công an tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tam giam T20; - Bị cáo; bị hại - Lưu Tòa HS, VT, H sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Hồng |