- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (điều 290 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HS-ST Ngày: 16-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Nam Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quang.
2. Ông Đặng Tùng Lâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
NGUYỄN MINH H, sinh ngày 11/9/1999 tại Hà Tĩnh; Hộ khẩu thường trú: Tổ 4, ấp Quản Lợi B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Xóm 1, thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Phụ bếp; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T và bà Tăng Thị T; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/11/2019.
(Bị cáo H có mặt)
- Bị hại: Anh Trần Ngọc V, sinh năm: 1995.
Địa chỉ: Số 136/88 Phú Sơn, C, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở: Số 84C, Đường 18, phường Hi, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Minh H và bị hại - anh Trần Ngọc V là phụ bếp của nhà hàng hải sản Lobster Bay số 10B Kỳ Đồng, Phường 9, Quận 3. Do điện thoại của bị cáo H thường hết pin và thường xuyên mượn điện thoại hiệu Samsung của anh V để sử dụng nên anh V cho mật mã để mở khóa điện thoại và bị cáo H đã tự thêm mật mã mở khóa điện thoại bằng vân tay của bị cáo để tiện sử dụng nhưng anh V không biết. Khoảng 15 giờ ngày 25/10/2018, tại nhà hàng Lobster Bay bị cáo H mượn điện thoại của anh V để sử dụng sau đó bị cáo đã tự ý đăng nhập vào Internet banking của anh V mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) và vào tài khoản số 0721000632506 của anh V bằng dấu vân tay của bị cáo H (do mật khẩu của tài khoản Internet banking đồng bộ với mật khẩu mở điện thoại) thao tác chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản của anh Phan H Long rồi trả lại điện thoại cho anh V. Sau đó, bị cáo H nhớ ra chưa nhập số tài khoản người nhận nên chưa nhận được tiền thì bị cáo H tiếp tục mượn điện thoại của anh V và thao tác chuyển số tiền 4.000.000 đồng vào số tài khoản số 19032920441017 tên Phan H Long mở tại ngân hàng Techcombank. Sau khi có tin nhắn chuyển tiền thành công, bị cáo H xóa tin nhắn thông báo chuyển tiền của Ngân hàng trong điện thoại của anh V và đến Vạn Hạnh Mall trên đường Sư Vạn Hạnh, Quận 10 lấy thẻ của anh Long để rút số tiền 3.950.000 đồng (do trước khi chuyển tiền thì bị cáo H đã gọi điện thoại cho anh Long qua ứng dụng zalo để mượn thẻ ATM nên được anh Long cung cấp số tài khoản). Sau đó, anh Trần Ngọc V kiểm tra và phát hiện bị mất tiền trong tài khoản nên đến Công an Quận 3 trình báo.
Qua truy xét, Công an Quận 3 xác định bị cáo Nguyễn Minh H là đối tượng thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của anh Trần Ngọc V nên tiến hành khởi tố vụ án. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 3, bị cáo H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đồng thời khai nhận mục đích chiếm đoạt số tiền trên để chuyển tiền cho ngân hàng MBbank thanh toán tiền mua xe trả góp tại cửa hàng xe máy Thanh V Phát địa chỉ tại khu phố Phú Nghị, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Minh H đã bồi thường cho anh V số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) và bị hại có đơn bãi nại đối với bị cáo H.
Vật chứng của vụ án:
- Số tiền chiếm đoạt là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) bị cáo đã sử dụng tiêu xài cá nhân.
- 02 bản giấy sao kê tài khoản của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương (Vietcombank) mang tên Trần Ngọc V (kèm theo hồ sơ vụ án).
Tại Bản cáo trạng số 111/CT-VKS-HS ngày 29 tháng 11 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay,
Bị cáo Nguyễn Minh H có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo có điều kiện làm lại cuộc đời.
Bị hại anh Trần Ngọc V có đơn xin vắng mặt và xác định đã được bị cáo trả lại số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) và có đơn xin bãi nại cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 02 (hai) năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ, ngày 25/10/2018, tại nhà hàng Lobster Bay, số 10B Kỳ Đồng, Phường 9, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Minh H sử dụng điện thoại của bị hại anh Trần Ngọc V (là bạn cùng làm phụ bếp tại nhà hàng) để truy cập vào Internet Banking Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam bằng dấu vân tay của bị cáo (do mật khẩu của tài khoản Internet banking đồng bộ với mật khẩu mở điện thoại) mà không được sự cho phép của anh V. Sau khi đăng nhập thành công, bị cáo đã từ tài khoản số 0721000632506 của anh V chuyển số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) đến tài khoản của anh Phan H Long. Tuy nhiên, bị cáo phát hiện ra chưa nhập số tài khoản nhận tiền nên bị cáo tiếp tục mượn điện thoại và chuyển số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) vào số tài khoản số 19032920441017 tên Phan H Long mở tại ngân hàng Techcombank (Bị cáo đã mượn thông tin tài khoản của anh Long để nhận tiền chuyển). Tin nhắn trừ tiền từ ngân hàng đến điện thoại của bị hại đã bị bị cáo đã xóa tin nhắn. Sau đó bị cáo đã ra cây ATM tại Vạn Hạnh mall, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh để rút số tiền đã chiếm đoạt của anh V thanh toán tiền trả góp xe máy.
Bị cáo H có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm đến hoạt động bình thường trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Minh H đã phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh H thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là lần đầu bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b-i-s khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo H có 3 tình tiết giảm nhẹ quy khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo có việc làm và nơi cư trú ổn định do đó xem xét để bị cáo không phải cách li với xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), bị cáo đã dùng để tiêu xài cá nhân không thu hồi được. Tuy nhiên, bị hại – anh Trần Ngọc V (có đơn xin vắng mặt) đã nhận số tiền bồi thường 4.000.000 đồng từ bị cáo và anh V không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về phần dân sự.
Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; điểm b-i-s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, điểm c khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án là ngày 16/01/2020.
Giao bị cáo Nguyễn Minh H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận nơi cư trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo H. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng);
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; -VKS ND Quận 3; - TAND TP.HCM ; - Chi cục THADS Quận 3; - Công an Quận 3; - PC53-CATP.HCM - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Nam Phương |