vanban.org

Bản án 10/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 11/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 12 năm 2020. Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải trả lại số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng) cho chị Trần Thị H; địa chỉ: Tổ dân phố 08, thị trấn H, huyện H, tỉnh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM Nguyễn Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG KHÊ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HS - ST
Ngày 11/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trọng Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngạch và ông Phan Trọng Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thuần Thắng - Kiểm sát viên.

Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 03 năm 2021, tại Hội trường xét xử số 01 Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2021/TLST - HS ngày 18 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/ QĐXXST - HS ngày 25 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh H, sinh ngày 19/02/1987, tại thị trấn H, huyện H, tỉnh H; Trú tại: Tổ dân phố 06, thị trấn H, huyện H, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Vợ: Phan Thị Huyền T, sinh năm 1992, con: Có 2 con, lớn 6 tuổi, nhỏ 3 tuổi. TiÒn ¸n, tiền sự: Không. Hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 29/12/2020 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Chị Đoàn Thị H; sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố 05, thị trấn H, huyện H, tỉnh H; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Trần Thị H; sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ dân phố 08, thị trấn H, huyện H, tỉnh H; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Nguyễn Thị G; sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm 03, xã P, huyện H, tỉnh H; vắng mặt.

+ Anh Đặng Tiến L; sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố 11, thị trấn H, huyện H, tỉnh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 19 tháng 12 năm 2020, Nguyễn Thanh H đi bộ từ nhà bà Nguyễn Thị T ở tổ dân phố 14 thị trấn H về nhà. Khi đi đến nhà bà Phan Thị K ở tổ dân phố 10, thị trấn H, Hải thấy nhà bà K cổng không khóa bên trong đèn điện bật sáng nên nảy sinh ý định vào nhà bà K lấy trộm tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. H đi vào phòng bếp nhìn thấy trên bàn nhựa có chiếc điện thoại Iphone 7 màu trắng xám, quan sát xung quanh không có ai nên H đã lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần, rồi đi đến khách sạn Sơn Hà 01 thuê phòng nghỉ.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, H mở điện thoại ra thử mật khẩu 111111 thì mở được máy, H sử dụng chiếc điện thoại trộm được vào tài khoản Zalo H Đ có sẵn trên máy nhắn tin với chị Nguyễn Thị G để mượn chị G số tiền 03 triệu đồng. Sau đó H dùng điện thoại này gọi điện cho anh Đặng Tiến L là người quen của H mượn số tài khoản ngân hàng có việc, L cho H mượn số tài khoản và H gửi số tài khoản này cho chị G để chuyển tiền thì bị chị G phát hiện là không phải chị Đoàn Thị H nhắn nên không chuyển tiền. Khoảng 11 giờ cùng ngày, H đến quán Internet Hải Việt của chị Trần Thị H mượn số tiền 1.800.000đ rồi để lại chiếc điện thoại lấy trộm làm tin. Số tiền mượn H tiêu xài hết vào mục đích cá nhận.

Sau khi nhận được tin báo của chị Đoàn Thị H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hương Khê tiến hành xác minh, triệu tập Nguyễn Thanh H lên làm việc, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hương Khê ngày 22/12/2020 xác định: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng xám trị giá: 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Appe, loại Iphone 7 số máy MN 492ZP/A, số seri C39SQ2YBHRXX, số IMI 359180079111941, màu trắng xám, màn hình cảm ứng, dung lượng 128GB. Quả trình điều tra đã trả lại cho chủ sử hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu về mặt dân sự.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị H yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh H hoàn trả số tiền 1.800.000đ.

Tại bản cáo trạng số 08/CT - VKS - HK ngày 08/02/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Bị cáo không kêu oan mà xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2020.

Bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về bản luận tội, đề nghị của Viện kiểm sát đối với mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự: Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra và của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định, hành vi tố tụng của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 19/12/2020, bị cáo Nguyễn Thanh H đã lơi dụng sơ hở mất cảnh giác của bà Phan Thị K nên H đã thực hiện hành vi lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 của chị Đoàn Thị H trị giá 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Appe, loại Iphone 7 số máy MN 492ZP/A, số seri C39SQ2YBHRXX, số IMI 359180079111941, màu trắng xám, màn hình cảm ứng, dung lượng 128GB. Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp, đúng quy định của pháp luật được quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị H yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh H hoàn trả số tiền 1.800.000đ, xét thấy đây là số tiền chị Trần Thị H cho bị cáo mượn có đặt chiếc điện thoại để làm tin, nhưng chị H không biết chiếc điện thoại đặt làm tin là tài sản do trộm cắp mà có, chiếc điện thoại hiện đã thu hồi trả lại cho bị hại, do đó buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải trả lại cho chị H số tiền trên là phù hợp được quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự..

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án có chị Trần Thị H đã cho bị cáo đặt chiếc điện thoại trôm cắp để làm tin mượn 1.800.000đ, do chị H không biết chiếc điện thoại là tài sản trộm cắp nên không xử lý; đối tượng Đặng Tiến L là người cho bị cáo H mượn tài khoản ngân hàng nhưng không biết mục đích sử dụng của bị cáo nên không xem xét xử lý. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Thanh H còn dùng chiếc điện thoại di động trộm cắp nhắn tin cho Nguyễn Thị G nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng bị chị G phát hiện, do không chiếm đoạt được tài sản nên hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm b, khoản 1 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 12 năm 2020.

3. Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải trả lại số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng) cho chị Trần Thị H; địa chỉ: Tổ dân phố 08, thị trấn H, huyện H, tỉnh H.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí HSST và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí DSST.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Cỡ chữ