- Tranh chấp gì? án hình sự — "H'YUN VÀ ĐỒNG BỌN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai để xét xử các bị can Dên, Quy, Lương và DJõng, có lý lịch nêu trên về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị can Hlip, có lý lịch nêu trên về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HS-ST Ngày: 13/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Thông - Nguyên hiệu trưởng trường tiểu học số 3, thị trấn Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
Bà Nguyễn Thị Chín - Nguyên hiệu trưởng trường tiểu học số 1, thị trấn Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Vương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. H'Yun, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 2000 tại tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Làng Bông Phun, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Ngưnh, sinh năm 1977; Mẹ: H'Niêm, sinh năm 1983; Hiện cha, mẹ bị cáo trú tại: Làng Bông Phun, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; Gia đình bị cáo có 04 chị, em; lớn nhất sinh năm 2000; nhỏ nhất sinh năm 2014, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có chồng; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; Hiện các con bị cáo trú tại: Làng Bông Phun, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Rmah Yúi, tên gọi khác: Duy; Giới tính: Nữ. Sinh ngày 04 tháng 10 năm 2002 tại tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Làng Hố Lâm, xã Chư Pơng, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Rlan A Mào, sinh năm 1975; Mẹ: Rmah Yin, sinh năm 1981; Hiện cha, mẹ bị cáo trú tại: Làng Hố Lâm, xã Chư Pơng, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai; Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
3. Kien, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 24 tháng 11 năm 2002 tại tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Làng Bông Bao, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Tin lành; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 00/12; Cha: Tam, sinh năm 1985; Mẹ: H'Dưm, sinh năm 1985; Hiện cha, mẹ bị cáo trú tại: Làng Bông Bao, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
4. Kpă Lôm, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 16 tháng 6 năm 2001 tại tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Làng Ka, xã Ia Tiêm, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Rlan Leo, sinh năm 1975; Mẹ: Kpă Dyũ, sinh năm 1976; Hiện cha, mẹ bị cáo trú tại: Làng Ka, xã Ia Tiêm, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã ngày 06 tháng 02 năm 2020, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đak Đoa. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Rmah Yúi, Kien: Luật sư Mai Văn Tấn - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Công Hoan, sinh năm 1967. Trú tại: Thôn Piơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Trình Thị Hoa, sinh năm 1974. Trú tại: Tổ 7, phường Thắng Lợi, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Bà H’Niêm, sinh năm 1983; Trú tại: Làng Bông Phun, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cũng là đại diện hợp pháp cho bị cáo Rmah Yúi: Ông Rlan AMào, sinh năm 1975. Trú tại: Làng Bia Bre, xã Ia Pết, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cũng là đại diện hợp pháp cho bị cáo Kien: Bà H’Dưm, sinh năm 1985. Trú tại: Làng Bông Bao, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người phiên dịch: ông Jil – Trú tại: Thôn Kloch, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 11 tháng 9 năm 2019, khi tất cả đang chơi ở nhà mình thì H’Yun rủ Rmah Yúi, Kpă Lôm và Kien đi trộm cắp tài sản (quả bơ) về bán lấy tiền tiêu xài, Yúi, Lôm và Kien đồng ý. H’Yun mang theo 04 cái bao xác rắn màu đỏ, dây buộc và 01 cái gùi bằng tre, Yúi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 99F5- 3569 chở H’Yun, Kien điều khiển xe mô tô BKS 81H3- 2892, Lôm điều khiển xe mô tô BKS 81P1- 295.47 tất cả đi theo chỉ dẫn của H’Yun đến vườn bơ Booth của ông Nguyễn Công Hoan (sinh năm 1967, trú tại: Thôn Piơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai) thuộc làng Bot, xã HNol, huyên Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Khi đến nơi lúc này khoảng 18 giờ cùng ngày thì H’Yun, Yúi, Kien và Lôm giấu xe mô tô bên ngoài vườn bơ rồi leo qua hàng rào lưới B40 vào trong vườn bơ hái trộm được 03 bao xác rắn quả bơ đầy thì nghỉ. Kien điều khiển xe mô tô BKS 81H3-2892 chở 01 bao quả bơ, Lôm điều khiển xe mô tô BKS 81P1- 295.47 chở 02 bao quả bơ, Yúi điều khiển xe mô tô BKS 99F5- 3569 chở H’Yun cùng đi về nhà H’Yun. Khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 19 thuộc Tổ dân phố (TDP) 7, thị trấn Đak Đoa thì bị Công an thị trấn Đak Đoa và Công an huyện Đak Đoa tuần tra trên đường phát hiện giữ được Kien và 01 bao quả bơ khối lượng 61kg, Lôm điều khiển xe mô tô BKS 81P1- 295.47 bỏ chạy về nhà H’Yun và giấu 02 bao quả bơ vào bụi tre ở sau nhà H’Yun thuộc làng Bông Phun, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai rồi bỏ đi.
Khoảng 22 giờ ngày 11 tháng 9 năm 2019, Kpă Lôm đến nhà H’Yun tìm gặp Rmah Yúi nhưng không gặp Yúi mà chỉ gặp H’Yun, Lôm nói với H’Yun là giấu 02 bao quả bơ ở bụi tre, Lôm sẽ lấy 1/2 bao quả bơ đi bán để lấy tiền trốn. Kpă Lôm đi ra bụi tre lấy 01 bao bơ đổ ra lấy 1/2 bao quả bơ đến một căn nhà hoang ở xã Chư Á, thành phố Pleiku. Kpă Lôm nhờ một thanh niên (Lôm mới quen nên không rõ lai lịch) mang đi bán 1/2 bao quả bơ, người thanh niên đi về nói 1/2 bao quả bơ khối lượng 32 kg, bán được số tiền 256.000 đồng, người thanh niên đưa cho Lôm 200.000 đồng. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày H’Yun đi ra bụi tre sau nhà thấy còn 1,5 bao quả bơ nên chở 01 bao quả bơ đi bán cho bà Trình Thị Hoa (sinh năm 1974, trú tại: Tổ 7, phường Thắng Lợi, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai) bán 02 lần, môi lần 1/2 bao quả bơ. Hai lần mua bơ của H’Yun thì bà Hoa cân được tổng khối lượng 53 kg nên mua với số tiền là 660.000 đồng. Còn lại 1/2 bao quả bơ khối lượng 28 kg H’Yun cất giấu ở nhà.
Ngày 12 tháng 9 năm 2019, sau khi vào vườn bơ phát hiện bị kẻ gian hái trộm quả nên đã làm đơn trình báo Cơ quan Công an huyện Đak Đoa để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định.
Trên cơ sở lời khai của Kien, Cơ quan điều tra Công an huyện Đak Đoa đã triệu tập H’Yun, Rmah Yúi và Kpă Lôm lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra H’Yun và Rmah Yúi đã khai nhận cùng đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 11 tháng 9 năm 2019. Riêng, Kpă Lôm sau khi phạm tội đã bỏ trốn đến ngày 06 tháng 02 năm 2020 thì bị bắt theo Quyết định truy nã.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 xe mô tô, số khung: UM8XF05141, số máy: 9FMB005141, đeo biển số 81H3- 2892.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Quichnewwave BKS 99F5-3569, số khung: 01852539, số máy: 150FMG01852539.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS 81P1-295.47, số khung 2606GY016654, số máy: KC26E1032111.
- 142 kg quả bơ còn xanh, loại bơ Booth, khối lượng quả lớn nhất 400 gam, khối lượng quả nhỏ nhất 200 gam và 03 bao xác rắn màu đỏ. (Thu giữ tại nhà bà Trình Thị Hoa 01 bao xác rắn và 53kg quả bơ; H'Yun giao nộp 01 bao xác rắn và 28kg quả bơ; Công an thị trấn Đak Đoa thu giữ của Kien 01 bao xác rắn và 61kg quả bơ).
- Số tiền 660.000đồng và 01 cái gùi bằng tre (cao 40cm, miệng gùi rộng 30cm) do H'Yun giao nộp.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 79 ngày 14 tháng 10 năm 2019 và số 09 ngày 12 tháng 02 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đak Đoa xác định: 174 kg, loại bơ Booth có trị giá là: 3.132.000đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 17 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo H’Yun và đồng bọn về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với H’Yun và đồng bọn và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình sự:
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo H’Yun từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Rmah Yúi từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Kien từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g; khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Kpă Lôm từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
Đối với số tiền 256.000đồng là số tiền bị cáo Kpă Lôm thu lợi bất chính từ việc bán quả bơ trộm cắp được mà có. Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo Rmah Yúi và Kien thống nhất cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân các bị cáo chưa thành niên nên còn nghe theo sự xúi giục người khác, mức hình phạt Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa đề nghị áp dụng cho các bị cáo là nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho các bị cáo cũng đủ tính chất răn đe, giáo dục riêng.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa không chấp nhận đề nghị của người bào chữa, về việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho các bị cáo Rmah Yúi và Kien. Vì trên địa bàn huyện Đak Đoa tình hình trộm cắp diễn biến phức tạp, gia tăng, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa giữ nguyên về việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo Rmah Yúi và Kien.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Vào khoảng 18 giờ ngày 11 tháng 9 năm 2019 tại làng Bot, xã HNol, huyên Đak Đoa, tỉnh Gia Lai, lợi dụng vườn bơ của ông Nguyễn Công Hoan không có người trông coi nên H’Yun, Rmah Yúi, Kpă Lôm và Kien đã hái trộm 03 bao quả bơ (loại bơ Booth còn xanh), có trọng lượng là 174 kg. Tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt có trị giá là: 3.132.000 đồng.
Như vậy, hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo H’Yun, Rmah Yúi, Kpă Lôm và Kien đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hình vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Bị cáo H’Yun là người rủ rê khởi sướng, quá trình phạm tội rất tích cực nên phải chịu trách nhiệm chính, do vậy phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Rmah Yúi, Kpă Lôm và Kien, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với bị cáo Rmah Yúi, Kpă Lôm và Kien là đồng phạm trực tiếp thực hiện tích cực hành vi phạm tội. Vì vậy bị cáo Rmah Yúi, Kpă Lôm và Kien phải nhận mức án tương xứng với hành vi, vai trò của mình.
Tuy nhiên, bị cáo Rmah Yúi, sinh ngày 04 tháng 10 năm 2002 đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị can chưa đủ 18 tuổi (16 năm 11 tháng và 07 ngày tuổi); bị cáo Kien, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2002 đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi 16 năm 09 tháng và 17 ngày tuổi) nên được hưởng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại chương XII Bộ luật hình sự.
Qua xem xét quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: các bị cáo Rmah Yúi và Kien có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm. các bị cáo Rmah Yúi và Kien có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Do vậy, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Rmah Yúi và Kien được hưởng án treo để tạo điều kiện cho các bị cáo được rèn luyện bản thân thành công dân có ích cho xã hội và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Kpă Lôm sau khi phạm tội bỏ trốn và bị bắt theo Quyết định truy nã, vì vậy cần cách ly bị cáo Kpă Lôm ra khỏi xã hội mới đủ tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với bà Trình Thị Hoa là người mua 53 kg quả bơ của H’Yun, bà Hoa không biết số bơ đã mua của H’Yun là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra công an huyện Đak Đoa không xử lý là có cơ sở.
Đối với nam thanh niên mà Kpă Lôm nhờ mang đi bán 32 kg quả bơ, không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xử lý là có cơ sở.
Đối với đối tượng có tên là Khá đã có hành vi giáo cấu với bị can H'Yun dẫn đến H'Yun có con (con H'Yun sinh ngày 27 tháng 7 năm 2016) đến ngày sinh con H'Yun mới 16 năm 00 tháng và 12 ngày tuổi, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch đối với đối tượng Khá, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý trong vụ án khác.
[5] Về vật chứng:
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Winner BKS 81P1- 295.47 thuộc sở hữu của ông Rlan Amào (bố ruột Rmah Yúi). Ngày 11 tháng 9 năm 2019, Yúi sử dụng xe mô tô trên đi trộm cắp tài sản ông Amào không biết nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả cho chủ sở hữu là có cơ sở.
- Đối với 142 kg quả bơ còn xanh, loại bơ Booth, khối lượng quả lớn nhất 400 gam, khối lượng quả nhỏ nhất 200 gam thuộc sở hữu của ông Nguyễn Công Hoan nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả cho chủ sở hữu là có cơ sở.
- Đối với số tiền 660.000 đồng là tiền bà Trình Thị Hoa mua bơ của H’Yun, khi mua bà Hoa không biết số bơ trên là do trộm cắp tài sản mà có nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả cho chủ sở hữu là có cơ sở.
- Đối với xe máy có số khung: UM8XF05141, số máy: 9FMB005141, qua tra cứu xác định biển số của xe là 81HD- 6195, 01 cái gùi bằng tre và 03 bao xác rắn màu đỏ thuộc sở hữu của bà H'Niêm là mẹ của H'Yun. Ngày 11 tháng 9 năm 2019, H’Yun tự ý lấy xe mô tô, gùi và 03 cái bao đi trộm cắp tài sản bà H’Niêm không biết nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả cho chủ sở hữu là có cơ sở.
- Đối với biển số 81H3- 2892 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Bài (sinh năm 1962, trú tại: Thôn 4, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai) quá trình sử dụng xe mô tô, biển số 81H3- 2892 bị rơi mất không xác định được vị trí nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả cho chủ sở hữu là có cơ sở.
- Đối với số tiền 256.000đồng là số tiền bị cáo Kpă Lôm thu lợi bất chính từ việc bán quả bơ trộm cắp của ông Hoan mà có. Bị hại ông Hoan không yêu cầu bồi thường số tiền này. Vì vậy, bị cáo Kpă Lôm phải nộp số tiền 256.000đồng tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại ông Nguyễn Công Hoan đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 142 kg quả bơ, đối với số quả bơ Kpă Lôm đã bán không thu hồi được ông Hoan không có yêu cầu bồi thường và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H’Yun;
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Rmah Yúi;
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của luật Hình sự đối với bị cáo Kien;
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kpă Lôm;
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo H’Yun, Rmah Yúi, Kpă Lôm và Kien phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo H’Yun 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Rmah Yúi 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/5/2020).
Xử phạt bị cáo Kien 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/5/2020).
Giao bị cáo Rmah Yúi cho Uỷ ban nhân dân xã Chư Pơng, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai; Giao bị cáo Kien cho Uỷ ban nhân dân xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Kpă Lôm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, bị tạm giam (ngày 06/02/2020).
3. Về xử lý vật chứng:
Tuyên: bị cáo Kpă Lôm phải nộp số tiền 256.000đồng thu lợi bất chính từ việc phạm tội vào Ngân sách nhà nước.
4. Về án phí:
Xử buộc bị cáo H’Yun, Rmah Yúi, Kpă Lôm và Kien mỗi bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/5/2020), các bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án về phần liên quan đến quyền lợi của mình để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
- Công an huyện Đak Đoa;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đak Đoa;
- Các bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ/VT.
Nguyễn Thị Hoài Thơ
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH GIA LAI
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAK ĐOA
Số: 18/CT–VKS
Đak Đoa, ngày 30 tháng 5 năm 2019
CÁO TRẠNG
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA
Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 06 ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa, về tội: “Trộm cắp tài sản” và "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự;
Căn cứ các Quyết định khởi tố bị can số 10, 11, 12,13 và 14 ngày 11 tháng 10 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa đối với Dên, Quy, Lương, Djõng, về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đối với Hlip, về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 19 ngày 10/5/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa,
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Ông Nguyễn Bá Thường (Sinh năm 1964, trú tại: Số nhà 418 Phạm Văn Đồng, phường Đống Đa, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai) mua đất rẫy và trồng 07 ha cà phê tại khu vực thôn Hàm Rồng, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai, ông Thường có thuê Suyến (Sinh năm 1994, trú tại: Thôn Ô Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai) hàng ngày chăm sóc và trông coi vườn rẫy cà phê.
Vào chiều ngày 02/01/2019, Dên ngồi uống rượu tại quán thịt chó Nhã tại ngã ba thôn Hàm Rồng, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa cùng với Quy; Lương và Djõng. Do trước đó Dên và Quy có hái cà phê thuê cho ông Nguyễn Bá Thường, biết tại rẫy cà phê nhà ông Thường đang phơi cà phê nên Dên nảy sinh ý định trộm cắp cà phê của ông Thường và hỏi Quy “Cà phê nhà Thường khô chưa?”, do Quy đi làm ngang qua thấy tại rẫy nhà ông thường đang xay cà phê nên Quy nói với Dên “Cà phê khô rồi, đang thuê người xay”. Dên rủ Quy, Lương và Djõng đi trộm cắp cà phê của nhà ông Thường bán lấy tiền tiêu xài thì tất cả đồng ý.
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 02/01/2019, Dên điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 81B2 - 429.47 (xe của gia đình Dên) chở Quy; Djõng điều khiển xe mô tô BKS 81F1- 9639 (xe của gia đình Lương) chở Lương đi trộm cắp cà phê. Dên chở Quy đi đến quán tạp hóa Hậu Hiền, tại: Thôn Ô Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, Dên đưa tiền cho Quy để mua 10 vỏ bao cước đựng cà phê hết 30.000đ (Ba mươi ngàn đồng). Sau đó tất cả đi đến nhà rẫy của gia đình Dên (gần rẫy nhà ông Thường) cất 02 xe mô tô tại đây rồi đi bộ đến rẫy cà phê của gia đình ông Thường. Khi đến nơi, thì tất cả trèo qua hàng rào lưới B40 để đi vào bên trong khu vực rẫy thì phát hiện thấy cà phê vỏ đang phơi dọc theo đường đi từ đầu rẫy đến cuối rẫy (đường bằng bê tông, từ hướng nam qua hướng bắc dài 267 mét x rộng 4,73 mét). Dên cùng Lương và Djõng hốt trộm cà phê vỏ đang phơi, còn Quy đi bộ xuống phía dưới nhà rẫy có điện sáng để cảnh giới (cách chỗ phơi cà phê là 180 mét). Trên đường đi, Quy phát hiện tại vị trí xay xát cà phê (cách vị trí đang phơi cà phê vỏ là 25 mét) có để 05 bao cà phê nhân (có bao đầy, bao vơi) nên Quy quay lại nói với Dên, Lương và Djõng không lấy cà phê vỏ nữa mà đi xuống lấy trộm cà phê nhân. Tất cả đi xuống khu vực nhà rẫy dồn 05 bao cà phê nhân vào 03 bao rồi thay nhau vác đưa ra bên ngoài hàng rào lưới B40 và mang đến cất giấu tại vườn cà phê của gia đình Djõng (cách vườn cà phê của ông Thường khoảng 500mét), sau đó lấy xe mô tô chở nhau đi về nhà ngủ.
Chiều ngày 04/01/2019, Dên điện thoại rủ Lương, Quy, Djõng và Hlip đến nhà rẫy của anh Yên uống rượu (Yên là anh rể vợ Dên). Sau khi uống rượu xong thì Yên về nhà trước, Hlip còn ở lại chơi thì Dên rủ Hlip cùng tham gia đi bán cà phê đã trộm cắp. Hlip có hỏi về nguồn gốc cà phê ở đâu có mà bán thì Dên nói cho Hlip biết là cà phê trộm cắp tại rẫy của ông Thường, Hlip đồng ý cùng đi bán.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/01/2019, Dên, Quy, Lương, Djõng và Hlip đến rẫy cà phê của Djõng chở cà phê trộm cắp đi bán, trong đó Quy đi xe mô tô BKS 81C1-044.32 (xe của bố mẹ Quy) chở 01 bao, Lương đi xe mô tô BKS 81F1-9639 (xe của bố mẹ Lương) chở 01 bao, Hlip đi xe mô tô BKS 81R2- 0327 (là xe của bố vợ tên Nhor) chở 01 bao và chở Djõng, Dên đi xe mô tô BKS 81B2-429.47 đi một mình. Các bị can chở cà phê trộm cắp được đến Doanh nghiệp thu mua nông sản Ngọc Chương tại xã Chư Hdrông, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai gặp anh Trần Ngọc Chương để bán. Hlip và Dên trực tiếp đưa 03 bao cà phê vào bán, còn các bị can khác đứng bên ngoài chờ. Anh Chương trực tiếp cân 03 bao cà phê nhân trên được tổng cộng là 145,9kg, sau đó chị Phạm Thị Hiền là kế toán doanh nghiệp viết phiếu tính tiền giá 34.000đ/01kg (theo giá mua tại thời điểm hiện tại), được số tiền là 4.959.000 đ (Bốn triệu, chín trăm năm mươi chín ngàn đồng) đưa cho Hlip, Hlip đưa lại tiền cho Dên cầm. Dên chia cho mỗi người 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) để tiêu xài cá nhân, số tiền còn lại các bị can rủ nhau đi uống rượu và hát Karaokê hết.
Vào sáng ngày 03/01/2019, anh Suyến (người trông coi rẫy cho ông Thường) phát hiện cà phê của ông Thường bị mất trộm nhưng ông Thường đang đi họp tại thành phố Hồ Chí Minh nên điện thoại nhờ anh Trần Trọng Hòa (là em rể) viết đơn trình báo vụ việc đến Cơ quan điều tra Công an huyện Đak Đoa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/01/2019, sau khi mua cà phê của Hlip và Dên bán, anh Chương nghi ngờ các bị can đã trộm cắp cà phê nên đã điện báo cáo Công an huyện Đak Đoa để điều tra làm rõ, xử lý vụ việc theo quy định. Cơ quan điều tra đã triệu tập các bị can để làm việc đồng thời tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Dên, Quy, Lương, Djõng và Hlip để xử lý theo quy định.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 67 ngày 10/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đak Đoa xác định 145,9kg cà phê nhân có trị giá là: 4.858.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 04 xe mô tô (Xe mô tô BKS 81B2- 429.47 do Dên giao nộp; xe mô tô BKS 81R2- 0327 do Hlip giao nộp; xe mô tô BKS 81F1- 9639 do Lương giao nộp; xe mô tô BKS 81C1- 044.32 do Quy giao nộp). Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS 81B2- 429.47 là của gia đình ông Djơnh (là bố của Dên); xe mô tô BKS 81R2- 0327 là của gia đình ông Nhor (là bố vợ của Hlip); xe mô tô BKS 81F1-9639 là xe của gia đình bà Glah (là mẹ của Lương); xe mô tô BKS 81C1- 044.32 của gia đình bà A Minh (là mẹ của Quy). Khi các bị can sử dụng xe mô tô đi thực hiện hành vi phạm tội ông Djơnh, ông Nhor, bà Glah và bà A Minh không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với ông Djơnh, ông Nhor, bà Glah và bà A Minh. Cơ quan điều tra Công an huyện Đak Đoa đã ra Quyết định trả lại tài sản là xe mô tô cho chủ sở hữu theo quy định.
- Tiền Việt Nam đồng là 1.100.000 đồng, trong đó: Tạm giữ của Hlip số tiền 500.000 đồng; Quy số tiền 500.000 đồng và Djõng số tiền 100.000 đồng là tiền có được khi bán tài sản do trộm cắp mà có. Tuy nhiên, quá trình điều tra các bị can đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Bá Thường (mỗi bị can bồi thường 1.000.000 đồng) nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại cho Hlip, Quy và Djõng theo quy định.
Đối với 145,9kg cà phê nhân khô, sau khi mua của Hlip và Dên bán, anh Trần Ngọc Chương đã trộn lẫn với cà phê của Doanh nghiệp và đã xuất bán nên không thu hồi được.
Đối với 10 chiếc bao mà các bị can để lại hiện trường, sau khi dọn dẹp anh Suyến đã đốt nên không thu giữ được.
* Về dân sự:
- Các bị can đã tự nguyện bồi thường xong về dân sự cho ông Nguyễn Bá Thường số tiền 5.000.000 đồng, ông Thường đã nhận đủ số tiền trên và không còn yêu cầu gì thêm.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,
KẾT LUẬN
Vào khoảng 21 giờ, ngày 02/01/2019, tại rẫy cà phê của gia đình ông Nguyễn Bá Thường thuộc thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai lợi dụng lúc trời tối nên Dên, Quy, Djõng và Lương đã trộm cắp 03 bao cà phê nhân, có trọng lượng là 145,9kg mang về khu vực nhà rẫy của gia đình bị can Djõng cất dấu. Đến ngày 04/01/2019, các bị can Dên, Quy, Djõng và Lương rủ thêm Hlip (Hlip biết số cà phê trên là do các bị can trộm cắp mà có) chở 03 bao cà phê trộm cắp được đến bán cho Doanh nghiệp thu mua nông sản Ngọc Chương được số tiền là 4.959.000 đồng. Tài sản mà các bị can chiếm đoạt qua định giá có trị giá là: 4.858.000 đồng.
Đây là vụ án có nhiều bị can cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội nhưng giữa các bị can không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể, không có sự câu kết chặt chẽ nên đây là vụ án đồng phạm thuộc trường hợp giản đơn. Trong đó, bị can Dên là người khởi xướng việc phạm tội, quá trình phạm tội rất tích cực nên bị can phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án; các bị can Quy, Djõng và Lương là đồng phạm, tham gia trong vụ án với vai trò là người thực hành. Bị can Hlip phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
Như vậy có đủ căn cứ xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:
LÝ LỊCH BỊ CAN
1. Bị can thứ nhất
Họ và tên: Dên, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Sinh năm 1992, tại tỉnh Gia Lai;
Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Quốc tịch : Việt Nam;
Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành
Nghề nghiệp: Làm nông;
Trình độ học vấn: 6/12;
Cha: Siu DJơnh, sinh năm 1966;
Mẹ: Par, sinh năm 1968;
Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Gia đình bị can có 04 chị, em; lớn nhất sinh năm 1987; nhỏ nhất sinh năm 1996, bị can là con thứ 3 trong gia đình.
Vợ: Ngâu, sinh năm 2000;
Bị can có 01 người con, sinh năm 2018;
Hiện vợ và con bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
Quá trình hoạt động của bị can:
Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.
- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.
Tiền án; tiền sự: Không
Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.
2. Bị can thứ hai
Họ và tên: Quy, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Sinh năm 1992, tại tỉnh Gia Lai;
Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Quốc tịch : Việt Nam;
Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành
Nghề nghiệp: Làm nông;
Trình độ học vấn: 5/12;
Cha: Ueng, sinh năm 1945;
Mẹ: A Minh, sinh năm 1950;
Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Gia đình bị can có 03 chị, em; lớn nhất sinh năm 1988; nhỏ nhất sinh năm 1995, bị can là con thứ 2 trong gia đình.
Vợ: Ngunh, sinh năm 1995;
Bị can có 01 người con, sinh năm 2014;
Hiện vợ và con bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
Quá trình hoạt động của bị can:
Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 5/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.
- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.
Tiền án; tiền sự: Không
Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.
3. Bị can thứ ba
Họ và tên: Lương, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Sinh năm 1997, tại tỉnh Gia Lai;
Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Quốc tịch : Việt Nam;
Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành
Nghề nghiệp: Làm nông;
Trình độ học vấn: 2/12;
Cha: Ling, sinh năm 1966;
Mẹ: Glah, sinh năm 1968;
Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Gia đình bị can có 06 chị, em; lớn nhất sinh năm 1991; nhỏ nhất sinh năm 2004, bị can là con thứ 3 trong gia đình.
Vợ: Gơn, sinh năm 1999;
Bị can có 01 người con, sinh năm 2015;
Hiện vợ và con bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
Quá trình hoạt động của bị can:
Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 2/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.
- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.
Tiền án; tiền sự: Không
Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.
4. Bị can thứ thứ tư
Họ và tên: DJõng, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Sinh năm 1985, tại tỉnh Gia Lai;
Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Quốc tịch : Việt Nam;
Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành
Nghề nghiệp: Làm nông;
Trình độ học vấn: 6/12;
Cha: Dinh, sinh năm 1963;
Mẹ: Yil, sinh năm 1965;
Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Gia đình bị can có 04 anh, em; lớn nhất sinh năm 1985; nhỏ nhất sinh năm 1993, bị can là con lớn nhất trong gia đình.
Vợ: Pen, sinh năm 1985;
Bị can có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2019;
Hiện vợ và các con bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
Quá trình hoạt động của bị can:
Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.
- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.
Tiền án; tiền sự: Không
Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.
5. Bị can thứ năm
Họ và tên: Hlip, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Sinh năm 1991, tại tỉnh Gia Lai;
Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Quốc tịch : Việt Nam;
Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành
Nghề nghiệp: Làm nông;
Trình độ học vấn: 4/12;
Cha: Huin, sinh năm 1960;
Mẹ: Hut, sinh năm 1962;
Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;
Gia đình bị can có 09 chị, em; lớn nhất sinh năm 1973; nhỏ nhất sinh năm 1997, bị can là con thứ 8 trong gia đình.
Vợ: Myin, sinh năm 1991;
Bị can chưa có con;
Hiện vợ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
Quá trình hoạt động của bị can:
Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 4/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.
- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.
Tiền án; tiền sự: Không
Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.
Hành vi của các bị can Dên, Quy, Lương và DJõng là nguy hiểm cho xã hội, các bị can đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Tài sản mà các bị can chiếm đoạt có trị giá là 5.150.000 đồng. Do vậy, hành vi của các bị can đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với bị can Hlip mặc dù biết được tài sản do bị can Dên cùng đồng phạm trộm cắp mà có nhưng vẫn giúp sức cùng với các bị can Dên, Quy, Lương và DJõng đi tiêu thụ tài sản, tài sản mà bị can tiêu thụ có trị giá là 5.150.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị can đã phạm vào tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b, Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm...".
Tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự quy định:
" 1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm..."
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị can có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra các bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hình vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội các bị can đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị can được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với anh Trần Ngọc Chương và chị Phạm Thị Hiền là người đã trực tiếp mua số cà phê do Dên cùng đồng phạm trộm cắp mà có, khi mua anh Chương và chị Hiền không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý về hình sự đối với anh Chương và chị Hiền là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai để xét xử các bị can Dên, Quy, Lương và DJõng, có lý lịch nêu trên về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị can Hlip, có lý lịch nêu trên về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
2. Kèm theo Cáo trạng có:
- Hồ sơ vụ án gồm có: 01 tập, được đánh số từ 01 đến 284.
- Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên toà./.
| Nơi nhận: - VKS Tỉnh (P3); - CQĐT- CAH. Đak Đoa; - Bị can; - Hồ sơ vụ án; - Lưu Hồ sơ KS. | KT. VIỆN TRƯỞNG PHÓ VIỆN TRƯỞNG Nguyễn Xuân Kỳ |