- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp HNGĐ"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hoàng Trường K ly hôn chị Phạm Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 7 năm 2020 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mầu Văn Mùi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga và ông Phùng Đình Bàn
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao, Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố V
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 05/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXX-ST ngày 29 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Hoàng Trường K, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ 10B, phố ST, phường T, thành phố VT, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu hành chính 1, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 10 năm 2019 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị anh Hoàng Trường K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị H kết hôn với nhau ngày 28/02/2008, trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận cho đến tháng 9/2011 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và phương pháp nuôi dạy con nên anh chị sống ly thân từ đó đến nay và vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Vợ chồng mâu thuẫn được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Duy L, sinh ngày 04/9/2010. Hiện nay cháu đang ở cùng với chị H và ông bà ngoại cháu. Ly hôn anh đề nghị để chị H tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung. Nếu chị H có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, vay nợ và công sức: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là chị Phạm Thị H được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ nhiều lần nhưng chị H vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử: Cho anh Hoàng Trường K ly hôn chị Phạm Thị H; giao chị Phạm Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Anh K phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Hoàng Trường K khởi kiện xin ly hôn chị Phạm Thị H và đề nghị giải quyết nuôi con chung nên đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn là chị H hiện đang cư trú tại phường Liên Bảo, thành phố V nên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị H nhiều lần nhưng chị H vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Trường K và chị Phạm Thị H kết hôn với nhau ngày 28/02/2008, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở được tự do tìm hiểu và tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, tiến bộ. Quá trình chung sống thời gian đâu hạnh phúc đến tháng 09/2011 anh chị phát sinh mâu thuẫn, măc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành và anh chị ly thân từ đó đến nay vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Quá trình giải quyết việc anh K xin ly hôn, chị H mặc dù biết việc anh K xin ly hôn nhưng chị H không quan tâm và bỏ mặc để anh K tự giải quyết. Thể hiện chị H cũng không còn quan tâm đến hạnh phúc và hàn gắn gia đình. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh K, chị H là mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh K và cho anh K được ly hôn chị H là phù hợp.
Về con chung: Anh K, chị H có 01 con chung là cháu Hoàng Duy L, sinh ngày 04/9/2010. Hiện nay cháu L đang ở cùng với chị H và ông bà ngoại cháu. Xét yêu cầu của anh K đề nghị để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Mặc dù chị H đi làm ăn thỉnh thoảng mới về nhà nhưng chị vẫn chu cấp đầy đủ cho cháu L trong học tập và cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Để tránh xáo trộn trong cuộc sống, sinh hoạt và học tập của cháu nên cần giao chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu L là phù hợp và phù hợp nguyện vọng của cháu L.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ, công sức: Anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án chị H vắng mặt và không đưa ra quan điểm giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án mà xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Anh K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hoàng Trường K ly hôn chị Phạm Thị H.
[2] Về nuôi con chung: Giao chị Phạm Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Hoàng Duy L, sinh ngày 04/9/2010. Anh Hoàng Trường K có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
[3] Về án phí: Anh Hoàng Trường K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2017/0006676 ngày 07 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V. Anh K đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND TP V; - Chi cục THADS TP V; - Các đương sự; - UBND TT. P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Mầu Văn Mùi |