- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Phùng Khắc H.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST Ngày 13 - 02 - 2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Việt Bằng
Ông Nguyễn Hoàng Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 13 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 923/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M - sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: ấp HN, xã HT, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Phùng Khắc H - sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp TH, xã HT, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2019 và quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Năm 2011, chị M và anh Phùng Khắc H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HT, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do anh H đam mê cờ bạc, gây nợ nần, không quan tâm và chăm sóc vợ con. Gia đình hai bên có hàn gắn, kHên ngăn anh H nhiều lần nhưng không sửa đổi. Chị M không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.
Về nuôi con chung: Chị M và anh H có 02 người con chung là Phùng Thị Ánh D, sinh ngày 12/10/2012 và Phùng Trí H2, sinh ngày 22/11/2014, đang sống với chị M. Khi ly hôn, chị M yêu cầu nuôi hai con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Chị M xác định không có.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Phùng Khắc H đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phùng Khắc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 207, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về hôn nhân: Năm 2011, chị Nguyễn Thị M và anh Phùng Khắc H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.
[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị M trình bày do anh H đam mê cờ bạc, gây nợ nần, không quan tâm và chăm sóc vợ con. Gia đình hai bên có kHên ngăn anh H nhiều lần nhưng không sửa đổi. Tại phiên tòa, chị M vẫn kiên quyết ly hôn với anh H. Về phía anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chịu M và anh H không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị M xin ly hôn với anh Phùng Khắc H.
[3] Về nuôi con chung: Chị M và anh H có 02 người con chung là Phùng Thị Ánh D, sinh ngày 12/10/2012 và Phùng Trí H2, sinh ngày 22/11/2014, đang sống với chị M. Khi ly hôn, chị M yêu cầu nuôi hai con. Tòa án đã ghi nhận ý kiến của cháu D xác định nếu cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống với mẹ. Anh H cũng không có ý kiến về việc chị M yêu cầu nuôi cháu H2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao hai cháu D và H2 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, theo nguyện vọng của cháu Dương.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, chị M xác định có đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về chia tài sản, nợ chung: Chị M xác định không có.
[6] Về án phí: chị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 207, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Phùng Khắc H.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Phùng Thị Ánh D, sinh ngày 12/10/2012 và Phùng Trí H2, sinh ngày 22/11/2014 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản và nợ chung: Chị M xác định không có.
4. Về án phí: Chị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 04/12/2019, chị M đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001051 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được cHển thu đối trừ.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Phòng KT-NV và THA TAND tỉnh Cà Mau (Gửi email); - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - UBND xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Hoàng Đắc |