- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu ly hôn với anh V, yêu cầu nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST Ngày 13 - 3 - 2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Ngân.
Ông Lê Đức Lập.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hải là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,
tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2020/TLST-HNGĐ
ngày 07 tháng 01 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm
2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm: 1986; cư trú tại số 437, tổ 2, ấp
B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc V, sinh năm: 1982; cư trú tại số 437, tổ 2, ấp
B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2020 và lời khai có trong hồ sơ vụ án,
nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày:
Chị và anh V sống chung năm 2003, đến ngày 27/12/2004 đăng ký kết
hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống vào thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2017 không hạnh phúc, thường phát sinh mâu thuẫn do anh V khó khăn về tiền bạc, tính hay ghen, vợ chồng hay cãi vả, anh V không tôn trọng chị và gia đình chị. Anh V có uống rượu nhưng không thường xuyên, anh V không đánh vợ. Chị nộp đơn ly hôn với anh V ba lần, trong đó lần một năm 2018, lần hai năm 2019, hai lần này anh V không lên Toà án và tự chị rút đơn khởi kiện để vợ chồng về sống với nhau nhưng không được; do đó năm 2020 chị tiếp tục nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh V. Mâu thuẫn vợ chồng chỉ có vợ chồng biết, gia đình hai bên và hàng xóm không biết. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh V.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 22/5/2004
và Nguyễn Quốc D, sinh ngày 31/3/2007. Chị yêu cầu nuôi hai con chung do hai con muốn sống với chị và chị đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Chị đang làm mướn và thuê đất trồng mì, thu nhập bình quân một tháng là 6.000.000 (sáu triệu) đồng.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
Nợ chung: Không có.
Theo lời khai ngày 20/02/2020 anh Nguyễn Ngọc V trình bày:
Anh và chị T sống chung năm 2003, đến ngày 27/12/2004 đăng ký kết
hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống vào thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2018 không hạnh phúc, thường phát sinh mâu thuẫn do tính tình chị T thay đổi, hay gây gổ. Anh có uống rượu nhưng không thường xuyên, anh không đánh vợ. Anh có biết chị T nộp đơn ly hôn một lần vào năm 2018 nhưng anh không đến Toà án. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh, anh không đồng ý ly hôn do anh còn thương vợ, anh không có lỗi trong cuộc hôn nhân này.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 22/5/2004
và Nguyễn Quốc D, sinh ngày 31/3/2007. Nếu chị T kiên quyết ly hôn, anh
muốn nuôi hai con chung. Hiện nay, anh làm nghề tài xế xe lu cho Công ty
TNHH Vũ Hoan, thu nhập bình quân một tháng là 8.500.000 (tám triệu năm
trăm nghìn) đồng.
Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
Nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh
Tây Ninh trình bày:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân
sự, không có vi phạm. Đương sự trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp
Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, cho
chị Phan Thị T và anh Nguyễn Ngọc V được ly hôn; về con chung: Giao hai con
chung là Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 22/5/2004 và Nguyễn Quốc D, sinh ngày
31/3/2007 cho chị Phan Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục, anh Nguyễn Ngọc V không phải cấp dưỡng nuôi do chị Phan Thị T không
yêu cầu; ghi nhận chị T và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản
khi ly hôn; nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phan Thị T khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Ngọc V, cư trú tại
huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, giải quyết tranh chấp về nuôi con chung.
Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1
Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Thị T là nguyên đơn vắng mặt tại phiên
tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Ngọc V là bị đơn vắng
mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo khoản 1 Điều
227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Ngọc V chung
sống có đăng ký kết hôn vào ngày 27/12/2004 tại Ủy ban nhân dân xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị T và anh Nguyễn Ngọc V hợp pháp.
Qua lời trình bày của chị T và anh V thấy rằng: Quá trình chung
sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là do có sự bất hòa trong đời sống vợ chồng, không có sự đồng nhất về cách nghĩ cũng như về lối sống, sinh hoạt, từ đó thiếu sự tin tưởng và không thông cảm, chia sẻ với nhau làm cho tình cảm vợ chồng bị ảnh hưởng và không giải quyết được nên chị T nộp đơn ly hôn với anh V ba lần, lần đầu năm 2018, lần hai năm 2019, lần ba năm 2020.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã cho thời gian để chị T và anh
V có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng, mong muốn vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng chị T vẫn cương quyết ly hôn, anh V không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng được chị T chấp nhận. Như vậy, có căn cứ về việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T, cho chị Phan Thị T và anh Nguyễn Ngọc V ly hôn.
Về nuôi con chung: Chị T và anh V có 02 con chung là Nguyễn Ngọc
T1, sinh ngày 22/5/2004 và Nguyễn Quốc D, sinh ngày 31/3/2007; hai con chung đều có nguyện vọng sống với mẹ sau ly hôn. Tuy nhiên, chị T và anh V đều có yêu cầu nuôi hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con vì cho rằng có đủ điều kiện nuôi hai con. Chị T và anh V đều có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con. Xét thấy, yêu cầu xin được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là nguyện vọng chính đáng của cha mẹ nhưng khi giao con cho người trực tiếp nuôi phải căn cứ vào điều kiện nuôi dưỡng, nguyện vọng của con chung nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, do đó giao hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Ngọc V không yêu cầu
Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn nên ghi nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Chị Phan Thị
T là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; anh Nguyễn Ngọc V không
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và
gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí
tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa chị Phan Thị T và anh Nguyễn Ngọc V.
2. Về nuôi con chung:
Giao hai con chung là Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 22/5/2004 và Nguyễn
Quốc D, sinh ngày 31/3/2007 cho chị Phan Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nguyễn Ngọc V không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung vì chị
Phan Thị T không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Ngọc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Ngọc V không yêu cầu Tòa
án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
4. Về án phí:
Chị Phan Thị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng theo biên lai thu số 0006644 ngày 07/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị Phan Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thị Thanh Hằng |