vanban.org

Bản án 10/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 12/06/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lệ Q được ly hôn với anh Nguyễn Thế N

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đan V, sinh ngày 22/10/2011 cho anh Nguyễn Thế N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Trong thời gian anh N đang ở nước ngoài giao cháu Nguyễn Đan V cho ông Nguyễn Xuân Ất (bố đẻ anh N) chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Q không phải đóng góp cấp dưỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Nguyễn Thị Lệ Q và anh Nguyễn Thế N năm 2020"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lệ Q được ly hôn với anh Nguyễn Thế N
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 6 - 2020
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đình Thông

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành; ông Nguyễn Thái Linh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Tống Khánh Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2020 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 30/2020/TLST - HNGĐ, ngày 18/3/2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST - HNGĐ, ngày 12/5/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ Q, sinh năm 1993; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện sinh sống lao động tại Đài Loan (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thế N, sinh năm 1990; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tự do tại Mỹ (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyến Thị Lệ Quyên trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lệ Q và anh Nguyễn Thế N kết hôn với nhau vào ngày 20/5/2011 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Trước khi kết hôn chị Q và anh N được tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian, đến năm 2013 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống thường xuyên cải cọ nhau. Năm 2014 chị Q đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2017 anh N đi xuất khẩu lao động tại Mỹ, thời gian đầu vợ chồng còn thường xuyên liên lạc với nhau. Do khoảng cách về địa lý xa xôi, vợ chồng không có thời gian bên nhau để chia sẽ cùng nhau, hàn gắn những mâu thuẫn nên dẫn đến ít khi liên lạc, tình cảm dần phai nhạt, mệnh ai nấy sống và không còn tình cảm với nhau. Nay chị Q thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục hàn gắn, hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Quyên làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

Về quan hệ con chung: Quá trình sống chung, chị Q và anh N có 01 con chung là Nguyễn Đan V, sinh ngày 22/10/2011. Từ khi chị đi xuất khẩu lao động đến nay, cháu sống cùng với bố và ông bà nội, được bố và ông bà chăm sóc tốt, hiện tại chị đang sinh sống và lao động tại Đài Loan không thể trực tiếp chăm sóc con nên chị đồng ý giao con cho anh N nuôi dưỡng con đến tuổi trường thành và chị Q không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ Q. Xử cho chị Nguyễn Thị Lệ Q được ly hôn với anh Nguyễn Thế Năng; về con chung: Giao con chung cho anh Nguyễn Thế N chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành; về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng:

Anh Nguyễn Thế N hiện đang lao động tự do tại Mỹ không có địa chỉ cụ thể. Tại công văn số 6732/QLXNC-P5, ngày 19/5/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, xác nhận: Anh Nguyễn Thế N, sinh ngày 20/01/1990 đã xuất nhập cảnh, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Toà án đã tiến hành xác minh qua người thân của anh Nguyễn Thế N là ông Nguyễn Xuân Ất (bố đẻ của anh N). Tại Biên bản xác minh ông Nguyễn Xuân Ất cho biết: Anh Nguyễn Thế N có liên lạc về với gia đình qua điện thoại, biết việc chị Nguyễn Thị Lệ Q làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn đối với anh, anh Nguyễn Thế N có thông tin cho ông biết việc mâu thuẫn tình cảm vợ chồng, nay chị Q yêu cầu ly hôn anh N đồng ý; về con chung giữa chị Q và anh N có 01 con chung là cháu Nguyễn Đan V, sinh ngày 22/10/2011, nguyện vọng của anh N là được nuôi con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con, trong thời gian anh chưa về Việt Nam thì nhờ bố mẹ anh thay anh chăm sóc cháu cho đến khi anh về Việt Nam; giữa chị Q và anh N không có tài sản chung cũng như nợ chung và hiện nay anh N đang lao động tự do tại Mỹ không thể trực tiếp tham gia quá trình giải quyết vụ án cũng như phiên tòa nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh Nguyễn Thế N. Tuy nhiên, anh N và ông Ất không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh N tại Mỹ; ông Nguyễn Xuân Ất đề nghị Tòa án giao các văn bản tố tụng của Tòa án thông qua gia đình và ông cam đoan sẽ gửi và thông tin đầy đủ cho anh N, nếu anh N gửi tài liệu về thì bà sẽ giao nộp cho Tòa án. Theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thế N theo quy định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lệ Q và anh Nguyễn Thế N đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn ngày 20/5/2011 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến đầu năm 2013 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cải cọ nhau. Năm 2013 chị Q đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2017 anh N đi xuất khẩu lao động tại Mỹ, cũng từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mệnh ai nấy sống dẫn đến tình cảm không còn, không thể tiếp tục, duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau…nhưng cuộc hôn nhân của chị Quyên và anh N không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, chung thủy, giúp đỡ nhau. Tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ Q xử cho chị Nguyễn Thị Lệ Q được ly hôn anh Nguyễn Thế Năng để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.

Quan hệ con chung: Chị Q và anh N có 01 con chung là Nguyễn Đan V, sinh ngày 22/10/2011. Từ khi chị đi xuất khẩu lao động đến nay, cháu sống cùng với bố và ông bà nội, được bố và ông bà chăm sóc tốt, cháu phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Anh Nguyễn Thế N có nguyện vọng được nuôi con đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con và trong thời gian anh N chưa về Việt Nam thì nhờ bố mẹ anh nuôi dưỡng chăm sóc cháu cho đến khi anh về Việt Nam. Chị Q hiện nay cũng đang sinh sống lao động tại nước ngoài, không thể trực tiếp chăm sóc cháu và chị Q nhất trí giao con cho anh N nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành. Do đó căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, giao con chung cho anh N nuôi dưỡng là đúng quy định và chị Q không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83,123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 37, 227, 273, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao về giải quyết vụ án Ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lệ Q được ly hôn với anh Nguyễn Thế N

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đan V, sinh ngày 22/10/2011 cho anh Nguyễn Thế N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Trong thời gian anh N đang ở nước ngoài giao cháu Nguyễn Đan V cho ông Nguyễn Xuân Ất (bố đẻ anh N) chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Q không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung không được ai ngăn cấm.

2. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Lệ Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000007 ngày 18/3/2020 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ