vanban.org

Bản án 10/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngân Thị Kim Đ đối với anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Ngân Thị Kim Đ số tiền 116.000.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu đồng chẵn). Kể từ ngày chị Đ có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NGAN THI KIM D - TRAN QUAN T, NGUYEN THI N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngân Thị Kim Đ đối với anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HƢNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2020/DS-ST
Ngày: 05 - 08 - 2020
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƢNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Hựu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Phương.

2. Ông Châu Vũ Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diểm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 08 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Hưng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2020/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2020/QĐXX-ST ngày 23 tháng 06 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngân Thị Kim Đ, sinh năm: 1986 ( có mặt ).

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn:

Anh Trần Quan T, sinh năm: 1980 ( vắng mặt).

Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1983 ( vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

Địa chỉ tạm trú: Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 12 năm 2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngân Thị Kim Đ trình bày: Ngày 25/05/2018 âm lịch nhằm ngày 08/7/2018 dương lịch, chị Đ có cho vợ chồng anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N vay số tiền 116.000.000 đồng, vay không lãi suất, thời hạn vay là 03 tháng. Đến hạn, anh T, chị N không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Nay chị Đ yêu cầu anh T, chị N phải trả số tiền vay là 116.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất chậm trả do vi phạm thực hiện nghĩa vụ. Chị Đ yêu cầu tính lãi suất giai đoạn thi hành án, kể từ ngày có đơn yêu cầu, mức lãi suất theo quy định khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 03 tháng 03, ngày 14 tháng 07 năm 2020 bị đơn anh Trần Quan T trình bày: Trước đây, vợ chồng anh T, chị N có nhiều lần vay tiền của chị Đ. Đến ngày 25/5/2018 âm lịch hai bên đối chiếu tiền vay thì vợ chồng anh còn nợ gốc và lãi với số tiền 116.000.000 đồng, anh có viết giấy biên nhận. Nay anh đồng ý liên đới với vợ Nguyễn Thị N trả số tiền 116.000.000 đồng, nhưng do thất mùa nên anh xin trả dần theo hàng tháng hoặc theo mỗi vụ lúa.

Do anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N không đến Tòa án, Tòa án tiến hành lập biên bản không hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Chị Ngân Thị Kim Đ khởi kiện anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N về việc “Hợp đồng vay tài sản”, do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán là đúng quy định; của Hội đồng xét xử đều đúng quy định, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định, còn bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật.

Anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án: Chị Đ yêu cầu anh T, chị N liên đới trả 116.000.000 đồng là có cơ sở, vì căn cứ vào giấy biên nhận ngày 25/5/2018 thể hiện anh T, chị N còn nợ chị Đ số tiền 116.000.000 đồng, anh T thừa nhận và đồng ý trả nợ theo yêu cầu của chị Đ. Do anh T, chị N vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên chị Đ khởi kiện là có căn cứ theo Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015.

Anh T xin trả dần cho chị Đ mỗi tháng 500.000 đồng hoặc mỗi vụ lúa 5.000.000 đồng, nhưng chị Đ không đồng ý nên không có cơ sở xem xét.

Anh T, chị N là vợ chồng, thời điểm nợ được xác lập trong thời kỳ hôn nhân và anh T thừa nhận vay tiền của chị Đ về phục vụ chung trong gia đình. Do đó, chị N phải có nghĩa vụ liên đới với anh T để trả nợ cho chị Đ là có căn cứ theo Điều 27 luật Hôn nhân và gia đình.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu của chị Đ có căn cứ chấp nhận toàn bộ số tiền 116.000.000 đồng theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án thụ lý giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” là đúng thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi có quyết định xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ hai lần cho anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N, nhưng anh T, chị N vắng mặt không vì trở ngại khách quan hay vì sự kiện bất khả kháng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị N theo Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung vụ án:

Hợp đồng vay tiền giữa chị Ngân Thị Kim Đ với anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N được xác lập vào ngày 25/05/2018 âm lịch nhằm ngày 08/07/2018, các bên có viết giấy vay tiền, không thể hiện mức lãi suất, không thể hiện thời hạn vay, nhưng chị Đ cho rằng có thời hạn là 03 tháng. Do đó, “Hợp đồng vay tài sản” giữa chị Đ với anh T, chị N là hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi. Do Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017. Như vậy, “Hợp đồng vay tài sản” giữa chị Đ với anh T, chị N được áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết.

Anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự thì anh T, chị N có nghĩa vụ đưa ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh nhưng anh Tấn, chị Nhung không cung cấp được chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ.

Tại phiên tòa, chị Đ khẳng định anh T có vay số tiền 116.000.000 đồng, thời hạn vay là 03 tháng, chị Đ cung cấp cho Tòa án 01 giấy vay tiền, có chữ ký của anh T. Đến hạn, anh T không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Nay chị Đ yêu cầu anh T phải trả số tiền vay 116.000.000 đồng. Do anh T không đến Tòa án, nhưng tại biên bản ghi lời khai ngày 03 tháng 03, ngày 14 tháng 07 năm 2020 thì anh T thừa nhận còn nợ của chị Đ số tiền 116.000.000 đồng, anh T xin trả dần theo hàng tháng hoặc theo mùa vụ nhưng chị Đ không đồng ý. Do đó, chị Đ yêu cầu anh T phải trả số tiền 116.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015.

Chị Đ yêu cầu chị Nguyễn Thị N phải liên đới với anh T để trả số tiền 116.000.000 đồng. Do chị N không đến Tòa án, nhưng chị N là vợ của anh T, theo giấy biên nhận nợ thì được xác lập trong thời kỳ hôn nhân và theo biên bản ghi lời khai anh T luôn có yêu cầu về bàn bạc với chị N để thực hiện cách trả nợ. Nay anh T, chị N không có phương án trả nợ nên chị N phải liên đới với anh T để trả số tiền 116.000.000 đồng cho chị Đ là có căn cứ theo Điều 27 luật Hôn nhân và gia đình và Điều 288 của Bộ luật dân sự.

Chị Đ yêu cầu anh T, chị N còn phải tiếp tục trả lãi trong giai đoạn thi hành án, được tính lãi kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự là có căn cứ theo Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đ là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí:

Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do toàn bộ yêu cầu của chị Đ được Tòa án chấp nhận nên anh T, chị N phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, mức án phí là 5% đối với số tiền phải trả cho chị Đ.

Chị Đ không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho chị Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 288, 463, 466, 468, 470 và Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngân Thị Kim Đ đối với anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Ngân Thị Kim Đ số tiền 116.000.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu đồng chẵn).

Kể từ ngày chị Đ có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí:

Anh Trần Quan T, chị Nguyễn Thị N phải chịu 5.800.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Ngân Thị Kim Đ không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho chị Đ 2.900.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0008072 ngày 07/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Long An.

3. Về quyền kháng cáo

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ