vanban.org

Bản án 10/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc ông Phạm Thành Tr có nghĩa vụ trả cho ông Lê Trọng T số tiền 2.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Buộc ông Phạm Thành Tr có nghĩa vụ trả cho ông Lê Trọng T số tiền 2.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH SƠN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/DS-ST
Ngày 31/8/2020
V/v tranh chấp hợp
đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đô;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quốc Thìn;

2. Bà Phạm Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2020/TLST-DS ngày 08/7/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2020/QĐXXST-DS ngày 11/8/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Trọng T, sinh năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Định; địa chỉ cư trú hiện nay: Đội 3, thôn E, xã F, huyện I, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Bị đơn: Ông Phạm Thành Tr, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện BS, tỉnh tỉnh Quảng Ngãi.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 07/7/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Trọng T (sau đây viết tắt là ông T) trình bày:

Ông và ông Phạm Thành Tr (sau đây viết tắt là ông Tr) có mối quan hệ là đồng nghiệp làm việc tại công trường Nhà máy thép Hòa Phát, thuộc Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 09/12/2018 và ngày 14/12/2018, ông Tr có mượn tiền của ông tổng cộng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để sử dụng vào mục đích cá nhân, khi nào ông yêu cầu thì ông Tr có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền nêu trên.

Từ năm 2019, ông đã nhiều lần yêu cầu ông Tr trả nợ nhưng ông Tr không trả nên nay ông khởi kiện yêu cầu ông Tr trả số tiền gốc 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) nêu trên, không yêu cầu trả lãi.

* Bị đơn là ông Phạm Thành T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có văn bản trình bày ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Nguyên đơn là ông T vắng mặt tại phiên tòa, có đề nghị xét xử vắng mặt; Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn là ông Tr vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Tr nhưng ông Tr không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ và không đến Tòa án làm việc, hòa giải, xét xử. Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về nội dung:

Theo ông T trình bày thì trong các ngày 09/12/2018, 14/12/2018, ông T cho ông Tr vay mượn tiền tổng cộng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để sử dụng vào mục đích cá nhân, ông T đã yêu cầu ông Tr trả nợ nhưng ông Tr cố tình không trả; chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, ông T cung cấp cho Tòa án chi tiết sao kê tài khoản số 0571000059301 của ông T mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam thể hiện ông T đã chuyển tiền cho ông Tr vào các ngày nêu trên.

Ông Tr không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có ý kiến phản đối các tình tiết, sự kiện mà ông T đưa ra. Căn cứ quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì các tình tiết, sự kiện mà ông T đưa ra không phải chứng minh; do đó, xác định ông Tr có vay của ông T số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), sau khi vay thì ông Tr là bên vi phạm nghĩa vụ trả nợ như ông T trình bày là sự thật.

Mặc dù số tiền ông T khởi kiện có giá trị nhỏ và bản thân ông Tr có khả năng, điều kiện để trả nợ nhưng từ sau thời điểm Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử sơ thẩm thì ông Tr vẫn chưa trả nợ cho ông T; điều này đã thể hiện ông Tr không có thiện chí thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình trong hợp đồng vay tài sản. Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu ông Tr trả số tiền nợ gốc 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các các Điều 466, 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Ông Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại các Điều 147, 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; hoàn trả tạm ứng án phí cho ông T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 91, 92, 144, 147, 150, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

1. Buộc ông Phạm Thành Tr có nghĩa vụ trả cho ông Lê Trọng T số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Ông Phạm Thành Tr phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Hoàn trả cho ông Lê Trọng T số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2018/0000825 ngày 08/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ