vanban.org

Bản án 10/2019/HSST — Hình sự

TAND TX. Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 08/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Đăng H phạm tội “ Cưỡng đoạt tài sản”.

Giao bị cáo Phan Đăng H cho Ủy ban nhân dân xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Đăng H phạm tội “ Cưỡng đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HỒNG LĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2019/ HSST
Ngày: 08/ 5 /2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH- TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thầm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Năng

Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Lê Hải Dương.

2.Ông Ông Hồ Mạnh Thưởng.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Trong c¸c ngày 17/04/2019 và 08/5/2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thÞ x· Hång LÜnh, tỉnh Hµ TÜnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09 /2019/TLST - HS, ngày 13 /03/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST - HS, ngày 02 tháng 04 năm 2019 ®èi víi bÞ c¸o:

Họ và tên: Phan Đ H; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 22 tháng 8 năm 1998; Tại xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Bình Tiến A, xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Đăng Thuật và bà Nguyễn Thị Tâm; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.Có mặt.

Người bị hại:

Chị Hoàng Thị T, sinh năm 2000, trú tại: Tổ dân phố 2, Phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Công T, sinh năm: 1999, trú tại: Thôn 7, xã Sơn Thọ, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Vắng mặt.

Chị Trần Thị N, sinh năm: 1970, trú tại: TDP 2, P. Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Có mặt.

Anh Nguyễn Viết P, sinh năm: 1996, trú tại: Thôn Bình Tiến A, xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Võ Đình H, sinh năm: 1999, trú tại: Khu tập thể bộ tư lệnh Hải quân vùng 3, 99 Yết Kiêu, Phường Thọ Quang, Sơn Trà, Đà Nẵng. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 26/8/2018 đến ngày 05/01/2019, Phan Đăng H sử dụng các tài khoản Facebook là “Hoàng Bảnh” và “Cậu bé tí hon” sử dụng những hình ảnh và video khỏa thân của Hoàng Thị T, sinh năm 2000, trú tại tổ dân phố 2, phường Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (là người H quen biết từ trước vào năm 2016) mà H nhận được từ một tài khoản Facebook “Thảo Hoàng” giả mạo tài khoản của Hoàng Thị T vào ngày 25/8/2018, để gửi đến tài khoản Facebook “Thảo Hoàng” do Hoàng Thị T quản lý nhằm mục đích uy hiếp, đe dọa tinh thần Hoàng Thị T. Trong khoảng thời gian này T đã nhờ một người bạn tên là P, quê quán ở huyện Can Lộc, Hà Tĩnh làm nghề lái xe ở tỉnh Lào Cai sử dụng tài khoản Facebook “Phú Nguyễn” và “Thảo Hoàng” của T (do T cung cấp mật khẩu) nói chuyện, đề nghị H không đăng ảnh khỏa thân của T lên mạng xã hội thì H trả lời P là không muốn bị đăng lên mạng xã hội thì phải đưa số tiền 5.000.000 đồng cho H, Phú đồng ý và hẹn ngày 25/01/2019 (tức ngày 20/12/2018 Âm lịch) sẽ đưa tiền cho H, đồng thời yêu cầu H không được làm phiền và đăng ảnh khỏa thân của T lên mạng xã hội. Hoàng đồng ý. Đến ngày 05/01/2019 do cần tiền trả nợ nên H nhắn tin cho T yêu cầu T đưa tiền, cho T thời hạn đến 19 giờ cùng ngày nếu không đưa tiền thì sẽ đăng tải hình ảnh và video khỏa thân của T lên mạng xã hội. Nghe H đe dọa, T đã xin H không đăng nhưng H không đồng ý. Sợ bị H đăng tải lên mạng xã hội nên T đã kể sự việc trên cho mẹ của mình là chị Trần Thị N biết. Sau đó chị N lấy 4.000.000 đồng của mình đưa cho T để T đưa theo yêu cầu của H. T nhắn tin nói với H chỉ có 4.000.000 đồng thì H đồng ý và đề nghị T chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Vietcombank của H nhưng T đề nghị đưa tiền trực tiếp cho H và muốn chứng kiến H xóa các ảnh, video nên đã hẹn gặp H ở khu vực cầu Tràng Cần thuộc địa phận phường Đức Thuận, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Thống nhất với T xong, H đi sang nhà Nguyễn Viết P, ở cùng thôn mượn một chiếc đục với mục đích sử dụng để chống trả lại người nhà T nếu bị đánh khi nhận tiền. P thấy H mượn đục đã hỏi H mục đích sử dụng làm gì nhưng H không trả lời. Tiếp đó H nhắn tin, gọi điện bằng tài khoản Facebook “Cậu bé tí hon” đến tài khoản Facebook “Hoàng Cứng Cáp” của Võ Đình H, trú tại thôn Tân Quang, xã Đức Lạng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, đang tham gia nghĩa vụ quân sự tại bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, hiện đang về phép và có mặt ở xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh với nội dung nhờ Võ Đình H đến nhà Nguyễn Viết P để chở đi có việc. Một lúc sau, Võ Đình H sử dụng xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 38E1 - 054.86 thuộc sở hữu của Nguyễn Công T đến gặp H. Võ Đình H hỏi đi đâu thì Phan Đăng H nói chở đến cầu Tràng Cần để lấy 4.000.000 đồng mới vay được. Khi Võ Đình H và Phan Đăng H đến khu vực cầu Tràng Cần thuộc địa phận tổ dân phố Đồng Thuận, phường Đức Thuận, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh thì T chưa đến. Khoảng 15 phút sau T một mình đi xe mô tô đến gặp H, T yêu cầu H xóa ảnh và video khoả thân của T thì mới đưa tiền, khi H đang xóa thì T đưa 4.000.000 đồng cho H và ôm H khóc. Cùng lúc này tổ tuần tra của Công an thị xã Hồng Lĩnh phát hiện thấy sự việc có dấu hiệu bất thường nên đã giữ Hoàng Thị T và Phan Đăng H để kiểm tra, còn Võ Đình H do lo sợ đã bỏ chạy. Khi biết tổ tuần tra là lực lượng Công an thị xã Hồng Lĩnh thì Hoàng Thị T đã trình bày bị Phan Đăng H đe dọa đăng tải hình ảnh khỏa thân lên mạng xã hội để chiếm đoạt 4.000.000 đồng. Công an thị xã Hồng Lĩnh đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các tang vật có liên quan.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng; Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý như sau:

- 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng, kiểu máy MGAA2J/A, số sêri FK 1NDSGFG5QT, số IMEI 354378062204823, đã qua sử dụng, thuô ̣c quyền sở hữu của Phan Đăng H được chuyển đến kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định của pháp luật.

- Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành : 4.000.000 đồng. Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan điều tra đa trả lại cho chị Hoàng Thị T và chị T đã trả lạĩ cho mẹ là chị Trần Thị N.

- 01 chiếc đục dài 15,5 cm, cán bằng gỗ dài 13,5 cm, lưỡi bằng kim loại dài 12 cm, vị trí rộng nhất là 5,5 cm, đường kính dài 03 cm, đã qua sử dụng. Sau khi điều tra làm rõ Cơ quan điều tra đa trã ̉ la ̣i cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Viết P.

- 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng, biển kiểm soát 38E1- 054.86, số khung 0610GY347978, số máy G3D4E365080, đã qua sử dụng. Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Công T.

- 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung , vở màu vàng số IMEI 1: 356412074440857, số IMEI2: 356413074440855, đã qua sử dụng . Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan điều tra đa trả lại cho chị Hoàng Thị T.̃

Về trách nhiệm dân sự: Số tiền 4.000.000 đồng sau khi điều tra làm rõ , Cơ quan điều tra đa trả lại cho chị Hoàng Thị T và chị Thảo đã trả lại cho mẹ là chị̃ Trần Thị N, bị cáo Phan Đăng H đã tự nguyện bồi thường về tinh thần cho chị Hoàng Thị T số tiền 10.000.000 đồng. Hiện nay chị T không có yêu cầu gì về phần dân sự.

Bản cáo trạng số 09/CT- VKS- TXHL, ngày 12 tháng 03 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh truy tố bị cáo Phan Đăng H về tội

“ Cưỡng đoạt tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 170; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Phan Đăng H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Giao bị cáo Phan Đăng H cho Ủy ban nhân dân xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, việc làm không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền

Về vật chứng và biện pháp tư pháp.

Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 : Tịch thu bán đấu giá sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng, kiểu máy MGAA2J/A, số sêri FK1NDSGFG5QT, số IMEI 354378062204823, đã qua sử dụng, thuô ̣c quyền sở hữu củ a Phan Đăng H

Về án phí: Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3,khoản 1 điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phan Đăng H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Hồng Lĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phan Đăng H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là:

Trong khoảng thời gian từ ngày 26/8/2018 đến ngày 05/01/2019, sau khi có được hình ảnh, video khỏa thân của chị Hoàng Thị T, Phan Đăng H đã uy hiếp, đe dọa sẽ đăng tải các hình ảnh, video đó lên mạng xã hội nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của chị Hoàng Thị T. Lo sợ Phan Đăng H đăng tải những hình ảnh nhảy cảm lên mạng xã hội sẽ gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của mình nên chị Hoàng Thị T buộc phải đưa cho Phan Đăng H số tiền 4.000.000 đồng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy cần xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật tương xứng với hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần áp dụng cho bị cáo: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật; không có tình tiết tăng nặng và có các tình tiết giảm nhẹ là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tinh thần cho bị hại số tiền 10 triệu đồng và quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều xin giảm nhẹ cho bị cáo và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo, các tình tiết này được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Trên cơ sở phân tích đánh giá đến tính chất, mức độ, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, việc làm không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền

Về dân sự: Người bị hại chị Hoàng Thị T không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng

, kiểu máy MGAA 2J/A, số sêri FK1NDSGFG5QT, số IMEI 354378062204823, đã qua sử dụng, thuô ̣c quyền sở hữu của Phan Đăng H được bị cáo dùng làm công cụ phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.

. Những người liên quan đến vụ án:

- Đối với Võ Đình H là người Phan Đăng H nhờ chở đi lấy 4.000.000 đồng. Võ Đình H không biết Phan Đăng H dùng hình ảnh, video khỏa thân của chị Hoàng Thị T để đe dọa, uy hiếp chị T để chiếm đoạt số tiền 4.000.000 đồng, vì vậy hành vi của Võ Đình H không cấu thành tội phạm.

- Đối với người sử dụng Facebook “Thảo Hoàng” giả mạo, đã gửi các hình ảnh, video khỏa thân của chị Hoàng Thị T đến tài khoản Facebook của Phan Đăng H. Quá trình điều tra không xác định được người sử dụng Facebook này, do đó không có căn cứ để xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Về đề nghị của Viện kiểm sát: HĐXX xét thấy lời đề nghị giải quyết toàn bộ vụ án như trên là hoàn toàn chính xác, phù hợp quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Đăng H phạm tội “ Cưỡng đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 170; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 xử phạt bị cáo Phan Đăng H 15(mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kề từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Đăng H cho Ủy ban nhân dân xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nếu trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp.

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử:

Tịch thu bán đấu giá sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng, kiểu máy MGAA2J/A, số sêri FK1NDSGFG5QT, số IMEI 354378062204823, đã qua sử dụng, thuô ̣c quyền sở hữu của Phan Đăng H

Tình trạng tang vật có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Hồng Lĩnh và Chi cục thi hành án thị xã Hồng Lĩnh ngày 12 tháng 3 năm 2019.

3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3,khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phan Đăng H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ