vanban.org

Bản án 10/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 29/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H. Sửa bản án sơ thẩm,

Xử phạt: Nguyễn Đức H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 29/01/2018). Giao bị cáo Nguyễn Đức H cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố A, tỉnh Khánh Hòa để giám sát, giáo dục trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H. Sửa bản án sơ thẩm,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HSPT
Ngày: 29 - 01 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Hữu Viên

Thẩm phán:

Bà Lê Thúy Phượng

Ông Nguyễn Hồng Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà tham gia phiên toà: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 196/2018/TLPT-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Đức H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 274/2018/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Khánh Hòa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐ-PT ngày 14 tháng 01 năm 2019.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đức H, sinh năm 1979; nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Phường B, thành phố A, tỉnh Khánh Hòa; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn C và con bà Nguyễn Thị D; vợ: Trần Thị Đ, có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa: Ông Vũ Như E, Văn phòng Luật sư Vũ Như E thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 16h30 ngày 25/01/2018, Tổ công tác liên phường số 01 tiến hành kiểm tra xử lý hành chính các hành vi vi phạm trật tự đô thị, an toàn giao thông và mỹ quan đô thị theo lịch của Tổ công tác liên phường do Chủ tịch UBND phường B ban hành. Khi đi ngang qua cửa hàng tạp hóa số 132 đường B, thành phố A, tổ công tác có nhắc nhở một số hộ kinh doanh giữ gìn mỹ quan đô thị, không lấn chiếm lòng, lề đường. Lúc này, Nguyễn Đức H liền lấy 01 cây dù to đặt ra lòng đường B, sau đó H đi vào trong nhà lấy 01 chai xăng khoảng 1,5 lít và 01 bật lửa ga đi ra thách thức tổ công tác thu giữ cây dù của H. Khi thấy sự việc trên, ông Vĩnh G là thành viên của Tổ công tác số 01 tiến đến thu giữ cây dù thì bị H tạt xăng vào người và giằng co với ông G không cho lấy cây dù. Tổ công tác thấy vậy liền tiến tới hỗ trợ ông G thì H bỏ chạy. Khoảng 30 phút sau, được gia đình vận động, H đã đến công an phường làm việc và thừa nhận hành vi nêu trên.

Bản án hình sự sơ thẩm số 274/2018/HSST ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố A, đã quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Đức H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 22/11/2018, bị cáo Nguyễn Đức H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Đức H giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng tội. Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tách nhiệm hình sự: khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xử phạt Nguyễn Đức H 06 (Sáu) tháng tù là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; sau khi phạm tội đã ra đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt

- Vị Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng, hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nhất thời, bột phát; thiệt hại vật chất chưa xảy ra; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo có nhân thân tốt, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; hoàn cảnh gia đình có khó khăn; bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm hình phạt và cho bị cáo Nguyễn Đức H được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Đức H tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/01/2018, bị cáo Nguyễn Đức H đã có hành vi thách thức, hắt xăng vào cây dù và vào người ông Vĩnh G, giằng co cây dù với ông Vĩnh G là thành viên tổ công tác liên phường đang thi hành nhiệm vụ kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm trật tự đô thị, an toàn giao thông và mỹ quan đô thị, cản trở ông Vĩnh G thực hiện nhiệm vụ. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 06 (Sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ cũng như hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đức H cung cấp chứng cứ chứng minh, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, hiện là quân dự bị hạng một; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Đức H có nhân thân tốt; có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H. Sửa bản án sơ thẩm,

- Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Đức H,

Xử phạt: Nguyễn Đức H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 29/01/2018).

Giao bị cáo Nguyễn Đức H cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố A, tỉnh Khánh Hòa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Đức H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ