vanban.org

Bản án 10/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 27/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HS-ST
Ngày: 27-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Trịnh, bà Lê Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Duy Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/TLST-HS, ngày 12 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN H, Sinh 1969, tại Bình Thuận. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T T 1, xã P P, huyện T P, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: thợ hồ. Trình độ học vấn: 5/12; Tiền án, tiền sự: không. Cha: Nguyễn Hòa N (chết); Mẹ: Lê Thị T (chết); Gia đình có 5 anh em, bị can là con út trong gia đình. Vợ: Lê Thị Thu H, sinh 1969; nghề nghiệp: nội trợ; Bị can có 04 người con; lớn nhất sinh 1989, nhỏ nhất sinh 1995. Bị can ra đầu thú và bị tạm giam ngày 26.11.2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Thuận (có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1991 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1969 (có mặt)

+ Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1987 (vắng mặt)

+ Cháu Nguyễn Phương T, sinh ngày 04/4/2013

Người đại diện của cháu Nguyễn Phương T: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1969; là bà nội của cháu T (có mặt)

Cùng nơi cư trú: thôn T T 1, xã P P, huyện T P, tỉnh Bình Thuận

- Người làm chứng:

1/ Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1995 (có mặt)

2/ Ông Hồ Kiên T, sinh năm 1991 (có mặt)

3/ Ông Bùi Văn K, sinh năm 1983 (có mặt)

Cùng nơi cư trú: thôn T T 1, xã P P, huyện T P, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều tối ngày 26.11.2018, Nguyễn Văn H đi uống rượu về nhà mình ở thôn T T 1, xã P P, huyện T P, tỉnh Bình Thuận thì thấy vợ mình là bà Lê Thị Thu H, sinh 1969 nên Nguyễn Văn H nói “hôm nay ăn cơm với gì”, bà H nói “bữa giờ trời bão nên ăn cơm với cá khô”; nghe vậy, Nguyễn Văn H nói “sao cho ăn vậy”; rồi bà Lê Thị Thu H đi ra phía trước hiên nhà ngồi, thì Nguyễn Văn H đi theo chửi “Đ.má, Đ.mẹ bà H vì sao không nấu cơm cho mình ăn” rồi dùng tay đè vào cổ bà H, sau đó Nguyễn Văn H đi vào lại trong nhà. Do sợ bị Nguyễn Văn H đánh, nên bà H điện thoại cho con ruột mình là Nguyễn Đình Q, sinh 1991 đến để chở bà H về nhà riêng của Q (ở cùng thôn và cách khoảng 100m); khoảng 10 phút sau thì Q điều khiển xe mô tô phía sau chở theo Nguyễn Thị Y, sinh 1987 (vợ của Q) đến, Q dừng xe và đứng ở ngoài cổng còn Yên đi vào phía trong sân nói chuyện với bà H. Thấy vậy, Nguyễn Văn H đi từ trong nhà ra và chửi “Đ.má, đ.mẹ”, bà H nói “đi nhậu về là kiếm chuyện chửi vợ con”, Nguyễn Văn H tiếp tục chửi bà H “đi làm đĩ”; nghe vậy, Q nói “ông chửi mẹ tôi đi làm đĩ hả, làm đĩ về nuôi ai”, Nguyễn Văn H nói Q “mày là con chứ không phải là cha tao mà mày thích chửi ai thì chửi”, Q chỉ tay về phía Nguyễn Văn H nói “ông cà chớn, tôi đánh chết mẹ ông”, Nguyễn Văn H liền đi đến sát chỗ Q đứng và áp sát vào người Q thì Q dùng tay đẩy Nguyễn Văn H ra rồi Q lên xe chở bà H, Yên về nhà của mình.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn H lấy 01 quả táo và 01 con dao thái lan dài khoảng 23cm, cán bằng gỗ màu nâu, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn rồi vừa gọt táo ăn vừa đi theo hướng về nhà của vợ chồng Q. Khi đi đến phía trước nhà con gái ruột mình là Nguyễn Thị Thu Tiên, sinh 1995 (cách nH Q khoảng 40m) thì Nguyễn Văn H đứng lại nhìn về phía nhà Q chửi nhiều lần “Đ.má, đ.mẹ”; lúc này Q ở gần đó thấy, nên đi đến chỗ Nguyễn Văn H nói “đ.má, mày muốn gì”, Nguyễn Văn H liền lấy điện thoại di động trong túi áo ra giả vờ nói vào điện thoại “thằng T (tên thường gọi của Q) nó lên đánh tôi nà mấy anh em” (nhằm mục đích hù dọa để cho Q không đánh mình),Q nói Nguyễn Văn H “Đ má, mày gọi thằng nào lên, tao giết thằng đó” Nguyễn Văn H nói Q “Đ má, mày ăn quen mày đánh tao hoài”,Q nói tiếp “mày tin tao vật đầu mày xuống nước không” đồng thời tiến sát vào người Nguyễn Văn H rồi giữa Q và Nguyễn Văn H dẫn đến xô xát, đánh nhau, H cầm một con dao nói trên đâm 01 nhát theo hướng từ dưới lên, từ phải qua trái, từ ngoài vào trong trúng vào hông trái Q, làm máu phun ra, Q bỏ chạy về gần đến nhà thì gặp vợ là Nguyễn Thị Y nói “anh chịu hết nổi rồi” rồi gục ngã ngất xỉu, Q được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong trên đường đi. Sau khi đâm Q xong, Nguyễn Văn H đi về nhà rửa dao có dính máu và đem cất giấu dao trên trụ cột cổng nhà của mình rồi đến Công an huyện T P, tỉnh Bình Thuận đầu thú và khai nhận toàn bộ Hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ Q CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận lập lúc 23 giờ 00 phút ngày 26/11/2018 thể hiện:

- Hiện trường không còn nguyên vẹn, do di chuyển nạn nhân đi cấp cứu và nhiều người đi qua lại.

- Nơi nạn nhân Nguyễn Đình Q bị đâm xảy ra tại đường bê tông có bề rộng 4,1m là đường liên thôn T T 1, xã P P, huyện T P, tỉnh Bình Thuận hiện trường có các dấu vết như sau:

+ Vị trí được đánh dấu số 01 trên hiện trường là vùng vết màu nâu đỏ dạng bệt, dạng phun, bám dính trên mặt đường bê tông, lề đất và cây cỏ; vùng vết màu nâu đỏ có kích thước (4,8mx 2,7m). Từ tâm vết màu nâu đỏ đo về hướng Tây Nam – nhà bà Nguyễn Thị Thu T được 4,2m.

+ Vị trí được đánh dấu số 02 trên hiện trường là vùng vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt có kích thước (2,60x1,20)m; từ tâm số 02 đo đến tâm số 01 được 4,30m.

+ Vị trí được đánh dấu số 03 trên hiện trường là vết màu nâu đỏ dạng bệt, dạng nhỏ giọt bám dính trên mặt đất ở lề đường liên thôn, có kích thước (1,1x1,40)m; từ tâm số 03 đo đến tâm vị trí số 02 được 29,1m.

Kết quả khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 24/2019/KN-TT ngày 17/12/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận, kết luận dấu vết tổn thương và nguyên nhân chết của Nguyễn Đình Q như sau:

* Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Một vết thương vùng sườn trái, thấu ngực, thủng tim (mặt sau tâm thất trái), tràn máu vào khoang màng tim, khoang ngực trái.

+ Vết thương do vật sắc nhọn gây ra.

+ Chiều hướng từ trái sang phải, từ dưới chếch lên trên với lực tác động rất mạnh.

+ Nồng độ cồn trong máu là 14,8mg/100ml.

* Nguyên nhân chết: Vết thương vùng sườn trái, thấu ngực, thủng tim làm mất máu → suy tuần hoàn cấp → tử vong.

- Tại Bản kết luận giám định số 321/C09B ngày 31.01.2019 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Công an, kết luận.

Các dấu vết màu nâu đỏ dính trên con dao, chiếc áo thun, các dấu vết thu tại hiện trường vị trí 1,2,3 gửi đến giám định là máu người. Phân tích AND từ các mẫu máu này cho kết quả như sau:

+ Không phân tích được kiểu gen hoàn chỉnh từ dấu vết máu thu tại hiện trường vị trí 1,2,3 do chất lượng mẫu kém nên không truy nguyên được cá thể.

+ Phân tích được cùng một kiểu gen nam giới hoàn chỉnh từ dấu vết máu dính trên con dao, chiếc áo thun gửi đến giám định và trùng với kiểu gen của Nguyễn Đình Q.

* Vật chứng vụ án:

Một con dao thái lan dài 23cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn; riêng 01 cái áo thun của Nguyễn Văn H có dính máu không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Tang vật này Viện KSND tỉnh Bình Thuận sẽ chuyển đến kho vật chứng của Cục thi Hnh án dân sự tỉnh Bình Thuận quản lý để đảm bảo việc xử lý.

Về phần dân sự:

Bà Lê Thị Thu H (mẹ ruột Nguyễn Đình Q) và bà Nguyễn Thị Y (vợ Nguyễn Đình Q) không yêu cầu Nguyễn Văn H phải bồi thường gì và đã làm đơn bãi nại.

* Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS-P2 ngày 28/02/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:

Giữ nguyên Q điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 08 năm đến 10 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị Thu H (mẹ ruột Nguyễn Đình Q) và bà Nguyễn Thị Y (vợ Nguyễn Đình Q) không yêu cầu Nguyễn Văn H phải bồi thường gì và đã làm đơn bãi nại.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật dân sự 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy tang vật gồm 01 áo thun, 01 con dao thái lan.

- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã biết hối hận về việc làm của mình. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của đại diện hợp pháp bị hại: Tại phiên tòa vẫn giữ nguyên đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các Hành vi, quy định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về Hành vi, quy định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Thuận, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quy định của cơ Q tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quy định tố tụng của cơ quan tiến Hành tố tụng, người tiến Hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội thể hiện:

Vào chiều tối ngày 26.11.2018, Nguyễn Văn H đi uống rượu về nhà mình ở thôn T T 1, xã P P, huyện T P, tỉnh Bình Thuận gây gỗ rồi dùng tay đè vào cổ bà Lê Thị Thu H (vợ), sợ bị đánh nên bà H điện thoại cho con ruột mình là Nguyễn Đình Q, sinh 1991 đến để chở bà H về nhà riêng của Q (cách khoảng 100m); Q điều khiển xe mô tô phía sau chở theo Nguyễn Thị Y (vợ của Q) đến, Q dừng xe và đứng ở ngoài cổng còn Yên đi vào phía trong sân nói chuyện với bà H. Thấy vậy, Nguyễn Văn H đi từ trong nhà ra và chửi “Đ.má, đ.mẹ”, bà H nói “đi nhậu về là kiếm chuyện chửi vợ con”, Nguyễn Văn H tiếp tục chửi bà H “đi làm đĩ’; nghe vậy, Q nói “ông chửi mẹ tôi đi làm đĩ hả, làm đĩ về nuôi ai”, Nguyễn Văn H nói Q “mày là con chứ không phải là cha tao mà mày thích chửi ai thì chửi”, Q chỉ tay về phía Nguyễn Văn H nói “ông cà chớn, tôi đánh chết mẹ ông”, Nguyễn Văn H liền đi đến sát chỗ Q đứng và áp sát vào người Q thì Q dùng tay đẩy Nguyễn Văn H ra rồi Q lên xe chở bà H, Y về nhà của mình.

Sau đó, Nguyễn Văn H đi bộ đến nhà của Q, khi cách nhà Q khoảng 40m thì H đứng lại tiếp tục chửi vợ mình. Thấy vậy, Q đi ra chỗ Nguyễn Văn H, thì giữa Nguyễn Văn H và Q xảy ra cải nhau dẫn đến xô xát, đánh nhau, H liền lấy 01 con dao thái lan đâm 01 nhát trúng vào người Q, làm Q tử vong.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai khác tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 24/2019/KT-TT ngày 17/12/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ. Với hành vi phạm tội trên, bị cáo Nguyễn Văn H đã bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố về tội “Giết người” được quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: trong vụ án này giữa bị cáo và bị hại là cha con, xuất phát từ việc mâu thuẩn giữa bị cáo H với bà Lê Thị Thu H (mẹ ruột bị hại), thấy mẹ bị chửi, đánh nên Q bực tức đưa bà H sang nhà, khi bị cáo Nguyễn Văn H đến thì H và Q xảy ra cải nhau dẫn đến xô xát, đánh nhau. Trong lúc cả hai đánh nhau Q ôm đánh trên đầu bị cáo, sẳn có cầm dao trên tay bị cáo H dùng con dao thái lan dài khoảng 23cm, cán bằng gỗ màu nâu, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn đâm 01 nhát trúng vào người Q, làm Q tử vong.

Kết quả giám định: Một vết thương vùng sườn trái, thấu ngực, thủng tim (mặt sau tâm thất trái), tràn máu vào khoang màng tim, khoang ngực trái. Vết thương do vật sắc nhọn gây ra. Chiều hướng từ trái sang phải, từ dưới chếch lên trên với lực tác động rất mạnh.Nồng độ cồn trong máu là 14,8mg/100ml.

Nguyên nhân chết: Vết thương vùng sườn trái, thấu ngực, thủng tim làm mất máu - suy tuần hoàn cấp, tử vong.

Trong vụ án này, bị hại Nguyễn Văn Q cũng có một phần lỗi, khi thấy bị cáo H sang nhà có lời lẽ chửi bới (do bị cáo là cha của bị hại Q) do thiếu kiềm chế Q thách thức chửi bị cáo H và nói “mày tin tao vật đầu mày xuống nước không” đồng thời xông vào xô xát, đánh nhau với bị cáo H. Việc làm của bị hại Q đối với cha ruột mình là trái đạo đức của người làm con đối với cha làm cho bị cáo bức xúc nóng giận do sẳn có con dao trên tay đã đâm vào bên sườn trái của Q gây tử vong.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã truy tố là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H là rất nghiêm trọng, thể hiện tính xem thường pháp luật, tước đoạt tính mạng của một con người, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù bị hại là con có những lời lẽ không đúng, đáng lẽ ra bị cáo làm cha phải biết nén cơn tức giận, bỏ ra về. Ngược lại bị cáo xông vào xô xát đánh nhau với Q và đâm Q. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về bồi thường dân sự: Tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường chi phí mai táng, các khoản khác theo quy định pháp luật nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng là 01 dao Thái lan, 01 cái áo thun của Nguyễn Văn H có dính máu nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

26/11/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu tiêu hủy: Một con dao thái lan dài 23 cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn; riêng 01 cái áo thun của Nguyễn Văn H có dính máu không còn giá trị sử dụng. Hiện có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2019.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

Án xử công khai sơ thẩm, thông báo cho bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Riêng bà Nguyễn Thị Y vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ