- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2019/HS-ST Ngày: 31-01-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trường Phát.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Văn Tài - Phó Giám đốc TTGDNN và GDTX huyện Xuân Lộc.
2. Bà Vũ Thị Đượm - CT. Hội LHPNVN thị trấn Gia Ray.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.
Vào ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 161/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Tấn Đ, sinh năm 1992 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê T, sinh năm 1965 và bà Trương Thị Thúy N, sinh năm 1971; Tiền án: không; Tiền sự: 01 tiền sự (Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự số 183/QĐ-XPVPHC ngày 27 tháng 9 năm 2016, Công an huyện Xuân Lộc xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác, bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt; Bị bắt tạm giam ngày 28 tháng 01 năm 2019. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Ông Lê Quang C, sinh năm: 1963; Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)
- Người làm chứng:
1. Anh Đỗ V, sinh năm: 1986; Nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)
2. Ông Huỳnh V, sinh năm: 1952; Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)
3. Ông Lê T, sinh năm 1965; Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 13 tháng 8 năm 2018, Lê Tấn Đ một mình đi bộ ngang trước nhà của ông Huỳnh V ngụ cùng ấp thì thấy ông Huỳnh V và ông Lê Quang C đang ngồi nhậu trong nhà sàn nên Lê Tấn Đ vào trong xin nhậu cùng. Sau khi nhậu được khoảng 10 phút thì Lê Tấn Đ tự ý ra về. Khi đi ra đến trước cổng, Lê Tấn Đ phát hiện một xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 60-698.05 của ông Lê Quang C đang dựng bên lề đường bê tông không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài. Lê Tấn Đ thấy xe đã bị hư ổ khóa điện nên ngồi lên xe mô tô đạp nổ máy và điều khiển xe mô tô về cất giấu trong bụi cây ở trước nhà. Đến khoảng 18 giờ ngày 16 tháng 8 năm 2018, Lê Tấn Đ điều khiển xe mô tô trộm cắp được đến tiệm sửa xe mô tô của anh Đỗ V ở ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để bán, anh Đỗ V nghi ngờ xe mô tô trên là do phạm tội mà có nên đã trình báo cho Công an xã X, huyện X.
Bản Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐG ngày 27 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Lộc kết luận: Giá trị còn lại của xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 60-698.05 là 5.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án thu giữ: xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 60-698.05.
Bản cáo trạng số 175/CT-VKSXL ngày 05 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố Lê Tấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Khoảng 16 giờ ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại lề đường bê tông trước nhà ông Huỳnh V thuộc ấp A, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Lê Tấn Đ đã có hành vi lén lút trộm cắp một xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 60-698.05 của ông Lê Quang C ngụ cùng ấp. Đến ngày 16 tháng 8 năm 2018, bị cáo Lê Tấn Đ điều khiển xe mô tô trộm cắp được đến tiệm sửa xe mô tô của anh Đỗ V ở ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để bán thì bị phát hiện. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 5.000.000 đồng.
Tài liệu chứng cứ thu thập hoàn toàn khách quan, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Tấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, có cha được Nhà nước tặng huân chương chiến công hạng ba.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ từ 06 đến 08 tháng tù. Xe mô tô đã được trả cho bị hại ông Lê Quang C nên ông Lê Quang C không có yêu cầu về dân sự.
Bị cáo Lê Tấn Đ tự bào chữa: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc.
Bị hại ông Lê Quang C vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra thể hiện ông Lê Quang C đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Ngày 13 tháng 8 năm 2018, bị cáo Lê Tấn Đ đã có hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô trị giá 5.000.000 đồng của ông Lê Quang C. Hành vi của bị cáo Lê Tấn Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhưng chỉ vì cần có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có cha được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Vật chứng vụ án: xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 60-698.05, Cơ quan điều tra công an huyện Xuân Lộc đã trả lại cho bị hại ông Lê Quang C là phù hợp
Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Lê Quang C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Lê Tấn Đ - 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 01 năm 2019.
- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Tấn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Tấn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Lê Quang C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Công an huyện Xuân Lộc; - CCTHADS huyện Xuân Lộc; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trần Trường Phát |