vanban.org

Bản án 10/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 06/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế Đ và Nguyễn Thành T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.

Nguyễn Thế Đ: 24 (hai m i bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù đ ợc tính từ ngày bị bắt t m giữ 07/4/2019. Nguyễn Thành T: 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù đ ợc tính từ ngày bị bắt t m giữ 07/4/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Đ và Nguyễn Thành T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế Đ và Nguyễn Thành T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử ph t; Điều 173 Bộ luật hình sự xử ph t; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 10/2019/HS-ST
Ngày 06-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Văn Điền

Ông Phan Văn Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ph m Thị Lan Ph ng- Th m tra viên Tòa án nhân dân huy n Ph c S n, t nh Quảng Nam.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quang Mẫn- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2019, t i trụ sở Tòa án nhân dân huy n Ph c S n, t nh Quảng Nam xét xử s th m công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2019/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 7 năm 2019 đối v i các bị cáo:

1. Nguyễn Thế Đ (tên gọi khác: C); sinh ngày 09/4/1992; t i huy n P, t nh Q; N i c trú: tổ dân phố số 3, thị trấn K, huy n P, t nh Q; nghề nghi p: không ổn định; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con bà Nguyễn Thị T1 (SN: 1958); có vợ: Hà Thị Mỹ P (SN: 1997) (đã ly hôn) và 02 con, l n sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: 04 tiền án: Ngày 29/8/2010, bị Tòa án huy n Ph c S n xử ph t 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 06/12/2013, bị Tòa án huy n Ph c S n xử ph t 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17/7/2015, bị Tòa án huy n Ph c S n xử ph t 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 03/11/2015, bị Tòa án huy n Đăk Glei, Kon Tum xử ph t 36 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình ph t tù ngày 23/9/2018; tiền sự: không; bị bắt t m giữ ngày 07/4/2019, t m giam ngày 13/4/2019, hi n đang bị t m giam, có mặt t i phiên tòa.

2. Nguyễn Thành T; sinh ngày 05/01/2000; t i huy n P, t nh Q; N i c trú: tổ dân phố số 3, thị trấn K, huy n P, t nh Q; nghề nghi p: không ổn định; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: CaDong; gi i tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Tiến N(chết) và bà Nguyễn Thị T2 (SN: 1969); tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 01/11/2014, bị Công an huy n Ph c S n xử ph t hành chính “Cảnh cáo” về hành vi “trộm cắp tài sản”; ngày 26/11/2016, bị Công an huy n Ph c S n xử ph t vi ph m hành chính 375.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; bị bắt t m giữ ngày 07/4/2019, t m giam ngày 13/4/2019, hi n đang bị t m giam, có mặt t i phiên tòa.

Bị hại:

Đào Quốc L, sinh năm: 1987; N i c trú: thôn 1, xã C, huy n P, t nh Q, có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ s vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Khoảng 23 giờ ngày 04/4/2019, Nguyễn Thế Đ và Nguyễn Thành T đi ch i cùng nhau. T nói v i Đ “Kiếm cho em xe máy không giấy tờ để em mua rẻ ch y”, Đ trả lời “D o này khó kiếm xe quá, em xem chỗ mô có xe dễ lấy để anh lấy cho mà ch y”; T nói ch y lên các xã vùng cao xem thử và Đ đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe máy Sirius của Đ, biển kiểm soát 43E1-058.67 chở Đ ch y từ thị trấn Khâm Đức theo đ ờng lên các xã vùng cao, khi đi ngang qua nhà ông Đào Quốc L (t i thôn 1, xã C), Đ và T thấy nhà ông L có một chiếc xe máy Exciter 150 màu xanh, b c, đen đang dựng ngoài hiên nhà nên T ch y xe chậm l i để Đ nhảy xuống vào lấy trộm xe (trên xe không có chìa khóa và không khóa cổ xe), còn T ch y qua một đo n (khoảng 30m) dựng xe đợi. Đ vào hiên nhà ông L dắt lùi xe ra đ ợc khoảng 01 mét thì nghe có tiếng động trong nhà, sợ bị phát hi n Đ để xe l i rồi ch y ra chỗ T đợi, T hỏi “không lấy đ ợc hả”, Đ nói “có ng ời” rồi T chở Đ đi ra khỏi một đo n xa và đợi cho gia đình ông L ngủ sẽ quay l i lấy xe. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 05/4/2019, cả hai quay l i nhà ông L, T dừng xe đợi ngoài đ ờng còn Đ vào hiên nhà ông L dắt trộm xe rồi đ y nhanh ra đ ờng đi đến chỗ T. Vì không mở khóa để nổ máy xe đ ợc nên Đ ngồi trên xe Exciter trộm đ ợc điều khiển còn T ch y xe Sirius dùng chân đ p đ y xe trộm cắp về thị trấn Khâm Đức. Đến xã Ph c Chánh, T tìm đ ợc 01 đo n dây thừng nhựa dài 4,45m (gồm 02 đo n dây nối v i nhau, trong đó có 01 đo n dây màu xanh dài 1,8m và 01 đo n dây màu đen dài 2,65m) buộc vào đầu xe Exciter và tiếp tục kéo xe về. Khoảng 04 giờ sáng cùng ngày thì cả hai về đến thị trấn Khâm Đức và cất giấu xe t i nhà của Nguyễn Thế Đ. T i nhà Đ, cả hai tìm cách phá khóa xe nh ng vẫn không đ ợc. Chiều tối ngày 06/4/2019, Đ dắt xe máy trên đi tìm ti m sửa xe để mở khóa thì bị Công an huy n Ph c S n phát hi n, mời về làm vi c. Đồng thời, Công an huy n cũng mời T về trụ sở làm vi c.

Vật chứng thu giữ:

- 01 chiếc xe máy nhãn hi u Yamaha - Exciter 150CC, BKS 92P1-049.02, màu xanh - b c- đen, đã qua sử dụng, hi n đã trả l i cho chủ sở hữu là anh Đào Quốc L.

- 01 chiếc xe máy nhãn hi u Yamaha- Sirius, BKS 43E1-058.67, màu đỏ - đen (đã qua sử dụng), là ph ng ti n Đ và T sử dụng để ph m tội.

- 01 đo n dây thừng nhựa dài 4,45m, gồm 02 đo n dây nối v i nhau, trong đó 01 đo n dây màu xanh dài 1,8m và 01 đo n dây màu đen dài 2,65m.

Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-ĐG ngày 11/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huy n Ph c S n kết luận: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hi u Yamaha- Exciter 150CC, BKS 92P1-049.02, màu xanh- b c- đen có giá 37.200.000 đồng.

T i C quan Công an, Đ và T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe máy của mình phù hợp v i các chứng cứ khác trong vụ án.

Đối v i Nguyễn Thế Đ, ngày 03/11/2015, Tòa án huy n Đăk Glei, Kon Tum đã áp dụng tình tiết định khung hình ph t “Tái phạm nguy hiểm” xử 36 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành án xong ngày 23/9/2018, ch a đ ợc xóa tích thì l i tiếp tục ph m tội.

T i bản Cáo tr ng số: 09/CT-VKS-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 Vi n kiểm sát nhân dân huy n Ph c S n, t nh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Thế Đ tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

T i phiên tòa đ i di n Vi n kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối v i bị cáo Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Thành T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nh : bị cáo T ph m tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, thành kh n khai báo về hành vi của mình. Bị cáo Đ khai báo thành kh n về hành vi ph m tội của mình. Tài sản các bị cáo trộm cắp đã đ ợc thu giữ và trả l i cho ng ời bị h i, nên các bị cáo ph m tội nh ng ch a gây thi t h i. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử ph t bị cáo Nguyễn Thành T từ 09 đến 12 tháng tù. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử ph t bị cáo Nguyễn Thế Đ từ 24 đến 30 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu 01 đo n dây thừng dài 4,45m, gồm 02 đo n dây nối v i nhau (trong đó 01 đo n dây màu xanh dài 1,8m và 01 đo n dây màu đen dài 2,65m) để tiêu hủy.

Các bị cáo đồng ý luận tội của Vi n kiểm sát và xin xem xét giảm nhẹ hình ph t.

Bị h i đồng ý v i luận tội của Vi n kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huy n Ph c S n, t nh Quảng Nam, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Ph c S n, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi ph m tội của mình phù hợp v i quy định của pháp luật; các bị cáo, bị h i không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

. T i phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế Đ và Nguyễn Thành T khai nhận hành vi ph m tội của mình nh nội dung bản Cáo tr ng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp v i lời khai của các bị cáo t i C quan điều tra, biên bản khám nghi m hi n tr ờng và phù hợp v i các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ s vụ án, thể hi n: Vào khoảng 23 giờ ngày 04/4/2019, T nói Đ kiếm cho T xe không có giấy tờ để T mua rẻ ch y, thì Đ nói l i T xem chổ nào dễ lấy thì Đ sẽ lấy cho T ch y. T nói Đ ch y lên xã vùng cao xem thử và Đ đồng ý. T điều khiển xe chở Đ lên xã vùng cao, khi đi ngang qua nhà Đào Quốc L khoảng 01 giờ ngày 05/4/2019, T và Đ đã lén lút trộm cắp chiếc xe máy nhãn hi u Yamaha- Exciter 150CC, BKS 92P1-049.02, màu xanh- b c- đen có giá 37.200.000đ (Ba mươi bảy triệu hai trăm ngàn đồng). Nguyễn Thế Đ ph m tội lần này thuộc tr ờng hợp “Tái phạm nguy hiểm”.

T i phiên tòa bị h i Đào Quốc L khai: Vào đêm ngày 04/4/2019, L sử dụng xe máy nhãn hi u Yamaha- Exciter 150CC, BKS 92P1-049.02, màu xanh- b c- đen đi ch i và đến 23 giờ cùng ngày thì về và để xe máy tr c hiên nhà. Đến 07 giờ sáng ngày 05/4/2019, thì phát hi n xe máy bị mất.

Nh vậy, trên c sở lời khai của các bị cáo, bị h i đã có đủ c sở để khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Thành T đã ph m tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và hành vi của Nguyễn Thế Đ ph m tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định t i điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự nh Cáo tr ng Vi n kiểm sát nhân dân huy n Ph c S n, t nh Quảng Nam truy tố là có căn cứ đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Thế Đ đã ba lần thực hi n hành vi trộm cắp tài sản và đã bị xét xử nên biết trộm cắp tài sản của ng ời khác là vi ph m pháp luật, nh ng khi nghe T nói kiếm cho T xe không có giấy tờ để mua rẻ đi thì Đ l i nói T tìm xe Đ lấy trộm cho T đi. Các bị cáo ph m tội không có bàn b c, phân công nhi m vụ cụ thể nên các bị cáo ph m tội đồng ph m giản đ n không có tổ chức. Tuy nhiên, xét về vai trò của từng bị cáo thì bị cáo T là ng ời khởi x ng vi c đi trộm cắp tài sản, sau đó đ ợc bị cáo Đ đồng ý và T là ng ời chở Đ lên xã vùng cao để Đ trộm cắp xe máy. Đ là ng ời trực tiếp trộm cắp xe máy là ng ời thực hành. Còn T là ng ời khởi x ng và ng ời chở Đ đi nên giúp sức tích cực cho Đ. Mặt khác, Nguyễn Thế Đ ph m tội lần này thuộc tr ờng hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, cần xử ph t bị cáo Đ mức hình ph t nghiêm khắc h n bị cáo T. Hành vi của các bị cáo đã xâm ph m tài sản của ng ời khác và làm ảnh h ởng đến tình hình trật tự an toàn trên địa bàn huy n, nên xử ph t các bị cáo mức hình ph t nghiêm khắc t ng xứng v i hành vi ph m tội để các bị cáo có thời gian cải t o trở thành ng ời có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét luận tội của Đại diện viện kiểm sát: Đ i di n Vi n kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo thành kh n khai báo qui định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có c sở cần đ ợc chấp nhận.

. Về các tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo T ph m tội qui định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ ph m tội thuộc tr ờng hợp “Tái phạm nguy hiểm” qui định t i điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không vi ph m tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành kh n khai báo, tài sản các bị cáo trộm cắp đã đ ợc thu giữ và trả l i cho bị h i nên ph m tội nh ng ch a gây thi t h i qui định t i điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T ph m tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, là ng ời dân tộc thiểu số nên sự nhận thức về pháp luật có phần h n chế qui định t i điểm i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ có hoàn cảnh khó khăn, mẹ già yếu và có hai con còn nhỏ. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình ph t khi l ợng hình.

Không xử ph t bổ sung vì các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

. Về trách nhiệm dân sự:

Ông Đào Quốc L đã nhận l i xe máy và không yêu cầu các bị cáo bồi th ờng thi t h i gì thêm nên không đề cập đến.

. Về xử lý vật chứng:

Đối v i chiếc xe máy nhãn hi u Yamaha- Exciter 150CC, BKS 92P1-049.02, màu xanh- b c- đen đã trả l i cho ông Đào Quốc L, nên không đề cập đến.

Đối v i chiếc xe máy nhãn hi u Yamaha- Sirius BKS 43E1-058.67, màu đỏ-đen, mà Đ và T sử dụng làm ph ng ti n ph m tội. Theo qui định của pháp luật thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà n c. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là bà Phan Thị Thanh H (trú t i ph ờng M, quận S, thành phố Đ. Tháng 02/2019, bà H bán chiếc xe này cho ông L ng Đức T3 (trú t i ph ờng A, quận S, thành phố Đ). Tháng 3/2019, ông T3 sử dụng xe máy Sirius BKS 43E1-058.67 đi ăn và bỏ quên t i khu vực thuộc địa bàn quận S nh ng ông T3 không báo cáo vụ vi c mất xe đến C quan chức năng để xử lý. Sau đó, Nguyễn Thế Đ đã mua l i xe máy trên từ một ng ời không rõ lai lịch. C quan CSĐT Công an huy n Ph c S n đã thông báo và chuyển toàn bộ hồ s , vật chứng xe máy có liên quan nêu trên đến C quan CSĐT Công an quận S, thành phố Đ để tiếp tục điều tra, xử lý vụ vi c theo th m quyền.

Đối v i 01 đo n dây thừng dài 4,45m, gồm 02 đo n dây nối v i nhau (trong đó 01 đo n dây màu xanh dài 1,8m và 01 đo n dây màu đen dài 2,65m), T lấy trên đ ờng đi t i thôn 1 xã Ph c Chánh để làm công cụ dùng vào vi c ph m tội. Tuy nhiên, đo n dây thừng này không còn giá trị sử dụng nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu để tiêu hủy.

. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế Đ và Nguyễn Thành T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử ph t bị cáo:

Nguyễn Thế Đ: 24 (hai m i bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù đ ợc tính từ ngày bị bắt t m giữ 07/4/2019.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử ph t bị cáo:

Nguyễn Thành T: 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù đ ợc tính từ ngày bị bắt t m giữ 07/4/2019.

- Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu 01 đo n dây thừng dài 4,45m, gồm 02 đo n dây nối v i nhau (trong đó 01 đo n dây màu xanh dài 1,8m và 01 đo n dây màu đen dài 2,65m) để tiêu hủy.

Vật chứng hi n Chi cục thi hành án dân sự huy n Ph c S n đang t m giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/7/2019.

- Án phí hình sự s th m: Mỗi bị cáo phải chịu: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Các bị cáo; bị h i có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án s th m.

Cỡ chữ