- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2019/HS-ST Ngày 22-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Như Học;
Bà Phan Thị Trang Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
- Họ tên: Huỳnh Lý H, sinh năm 1992 tại xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1956 và bà Hồ Thị Q, sinh năm 1962; Vợ Lê Thúy N, sinh năm 1985; Con 01 người, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân tốt; bị cáo đang được tại ngoại và cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngà y 17/4/2019 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 02/3/2019 anh Lê Văn Đ điều khiển xe mô tô hiệu NOUVO 5, biển kiểm soát 69E – 066.97 tới nhà anh Phan Minh T tại ấp B, xã T, huyện N để ngủ nhờ, anh T và anh Đ là anh em bạn rể, đến nơi anh T không có ở nhà, anh Đ đậu xe trước cửa nhà và vào nhà anh T, sau đó anh Đ cởi quần tây dài ra treo trên vách nhà cùng với cái bóp đựng giấy tờ và chìa khóa xe. Anh Đ ngủ đến 06 giờ sáng ngày 03/3/2019 thức dậy thì phát hiện chiếc xe đã bị mất cùng chìa khóa xe và cái bóp màu xám để trong túi quần cũng bị mất, trong bóp có 01 giấy phép lái xe, 01 bảo hiểm xe, 01 thẻ ATM ngân hàng BIDV, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 69E – 066.97, 01 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Lê Văn Đ nên anh Đ trình báo Công an xã Tam Giang.
Đến ngày 17/3/2019 thì Huỳnh Lý H, sinh năm 1992 trú tại ấp B, xã T, huyện N đến Công an xã T, huyện N đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô cùng toàn bộ giấy tờ đã trộm của anh Đ. Qua làm việc H khai nhận: Khoảng 03 giờ sáng ngày 03/3/2019 H đi đến nhà anh Phan Minh T cùng địa phương thì thấy có một chiếc xe mô tô hiệu NOUVO 5 màu vàng đen, biển kiểm soát 69E – 066.97 đậu trước cửa nhà, bên trong nhà có đèn nên H nảy sinh ý định vào nhà trộm cắp tài sản. H khoét vách lá chui vào nhà lục soát trong túi quần tây phát hiện có 01 cáo bóp màu xám chỉ có giấy tờ nhưng không có tiền, H lấy cái bóp và lấy chìa khóa xe điều khiển xe anh Đ chạy được một đoạn thì ngừng lại bẻ biển số xe quăng xuống kênh, sau đó H tiếp tục chạy đến bến phà Chà Là, Tam Giang chờ đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày thì ông Nguyễn Quốc K chạy phà đưa H qua sông; H chạy xe đến khu công nghiệp Việt Hương ở Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương lẫn chốn đến ngày 17/3/2019 thì về Công an xã T, huyện N đầu thú.
Tang vật của vụ án được thu giữ gồm: 01 xe mô tô màu vàng đen hiệu Yamaha NOUVO 5 không biển số kiểm soát; 01 giấy phép lái xe , 01 bảo hiểm xe, 01 thẻ ATM ngân hàng BIDV, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 69E – 066.97, 01 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Lê Văn Đ và 01 cái bóp da đã cũ. Đến ngày 19/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra mới thu được biển số kiểm soát 69E – 066.97.
* Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 13/KL-HĐĐG ngày 02/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Năm Căn kết luận:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo 5 phiên bản RC, bánh mâm, màu vàng đen đã qua sử dụng năm 2012 có giá trị 16.033.000 đồng.
Như vậy, giá trị tài sản bị cáo H chiếm đoạt theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện Năm Căn là 16.033.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKSNC ngày 13 tháng 6 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau truy tố đối với bị cáo Huỳnh Lý H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Lý H từ 03 đến 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Toàn bộ tài sản mất trộm đã trả lại cho bị hại, nên không đặt ra xem xét.
- Bị cáo H thống nhất với nội dung bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, mức hình phạt đề nghị là phù hợp, nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại là ông Lê Văn Đ vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ sáng ngày 03/3/2019 bị cáo H đi đến nhà anh Phan Minh T cùng địa phương thì thấy có một chiếc xe mô tô hiệu NOUVO 5 màu vàng đen, biển kiểm soát 69E – 066.97 đậu trước cửa nhà nên H nảy sinh ý định vào nhà trộm cắp tài sản, H khoét vách lá chui vào nhà lén lút lục soát trong túi quần tây phát hiện có 01 cái bóp màu xám chỉ có giấy tờ nhưng không có tiền, H lấy cái bóp và lấy chìa khóa xe điều khiển xe anh Đ chạy đi. Tổng giá trị tài sản bị cáo H chiếm đoạt theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện Năm Căn là 16.033.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số: 10/CT-VKSNC ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố đối với bị cáo Huỳnh Lý H là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ông Đ được pháp luật bảo vệ; đồng thời, hành vi của bị cáo H còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, với hành vi và mức độ thực hiện hành vi của bị cáo, cần phải có hình phạt để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội; Đồng thời, đảm bảo tính răn đe của pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội, góp phần tuyên truyền pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.
Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú, khắc phục hậu quả và trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ích nghiêm trọng và bị hại có đơn xin bãi nại. Do đó, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có, bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Do vật chứng đã trả lại cho bị hại và bị hại không đặt ra yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ý kiến đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Lý H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Lý H 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Tiếp tục cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo H kể từ ngày tuyên án cho đến khi đi chấp hành án.
3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Tang vật đã trả lại cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Huỳnh Lý H phải chịu nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
5. Án xử sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Sở tư pháp; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - Công an huyện Năm Căn; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Năm Căn; - Chi cục THADS huyện Năm Căn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Tạo |